Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Bậc Kiên

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Bậc Kiên   Wed 20 Jan 2010, 02:11

HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ,
ANH CHỊ LÀ AI ?
Huynh trưởng Gia Ðình Phật Tử là thành phần lãnh đạo tổ chức, thay mặt tổ chức thực hiện mục đích của tổ chức Gia Ðiình Phật Tử Việt Nam: "đào luyện Thanh Thiếu Ðồng niên tin Phật thành Phật tử chân chánh, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội". Là người cán bộ hoằng pháp của Giáo hội, là người thực hiện lý tưởng Gia Ðình Phật Tử Việt Nam phục vụ Ðạo pháp Dân tộc và con người.
Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam là một công dân bình thường của tổ quốc biết sống có mục đích - có lý tưởng phục vụ, thề trọn đời trung kiên với mục đích lý tưởng nầy, không phản bội hay thoái thất hạnh nguyện.
Chân dung Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam là hình ảnh một con người đang đi ngược lại dòng sông mê để tiến tới bờ giác - với lý tưởng phục vụ đạo pháp dân tộc và chúng sanh - Bằng cách hoàn thành sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ mà tổ chức đã giao phó.
Làm thế nào để chân dung này không lu mờ:
1. Hãy dấng thấn làm người đồng hành với tuổi trẻ không đợi mời thỉnh
2- Khôi phục niềm tin nơi thế hệ trẻ
3- Tiếp sức và tạo điều kiện để tuổi trẻ vươn lên
4- Truyền thừa sự nghiệp cho tuổi trẻ (Không tham quyền, trục lợi, cố vị)
5-Hãy thể hiện năng lực kiến thức tài trí bằng hành động, bằng việc làm
6- Với ý chí kiên cường bất khuất
7- Với dụng tâm trong sáng tất cả vì nhiêu ích hữu tình lợi lạc quần sanh mà dấn thân.
Là Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam, Lý tưởng là con đường thực hiện mục đích của tổ chức, là phục vụ tổ quốc dân tộc và chúng sanh, chỉ có chính chúng ta quay lưng lại với tiêu chí đã phát tâm lập nguyện với tổ chức với lý tưởng. Lý tưởng không phải là một thứ tài sản nên không ai có thể tước đoạt hay lấy cắp của các Anh Chị - Chỉ có chúng ta đánh mất nó vì sự hèn nhát, lười biếng và ngại khó. Một huynh trưởng đúng nghĩa luôn luôn tuân kỷ luật - chịu huấn luyện, thiết tha yêu nghề dạy trẻ và quyết tâm làm con trâu kéo chiếc cày tổ chức cho đến hơi tàn lực tận xã bỏ thân tứ đại - năng lực ý chí này vẫn không thay đổi - Huống hồ là xin tạm nghỉ sinh hoạt vì lý do này hay lý do khác - Luôn tự nhắc nhở mình rằng 10 điều tâm nguyện của một Phật tử - 10 điều tâm nguyện của một Huynh trưởng.
Tôn trọng tổ chức phải tôn trọng màu cờ sắc áo là tôn trọng tâm nguyện của tập thể - Khi không đảm đương nổi sứ mạng nên treo áo - Hoàn lại cấp cho tổ chức, đến lúc nào khắc phục được chướng duyên xin phục hồi cấp bậc mới là kẽ tự trọng đáng kính vậy.
SỰ TU HỌC CỦA HUYNH TRƯỞNG:
Nhiệm vụ chính của Huynh trưởng là tổ chức, điều khiển, hướng dẫn giáo dục đoàn sinh trong đoàn dựa trên căn bản tinh thần giáo lí của Đạo Phật, theo các phương pháp lựa chọn phù hợp và hiệu quả.
Muốn làm tròn nhiệm vụ, người Huynh trưởng phải hội đủ các tiêu chuần cốt yếu:
-Khả năng gắn liền đạo đức.
-Tri thức đi đôi kinh nghiệm
Hiển nhiên là những điều kiện và tiêu chuần ấy chỉ được hình thành qua con đường TU HỌC và RÈN LUYỆN.
Người Huynh trưởng phải được giáo dục và rèn luyện tu dưỡng trước khi đến với các em và cả trong khi làm nhiệm vụ hướng dẫn, điều khiển dạy dỗ các em. Vì sao? Vì Người huynh trưởng không thể trao truyền kiến thức cho các em với năng lực, trình độ kém cỏi, non yếu, và cũng không thể giáo dục đạo đức cho các em khi bản thân mình còn nhiều thói hư, tật xấu.
Huynh trưởng có 4 bậc học đó là: Kiên (1 năm), Trì (2 năm), Ðịnh (3 năm) và Lực (5 năm).
Trong mỗi Bậc học của Huynh trưởng có 4 phần:
A- Phật pháp- Tinh thần – Lịch sử
B- Hiếu biết về tổ chức GĐPT và Giáo hội
C-Kiến thức tổng quát và khả năng chuyên môn
D-Tu tập tự thân.
Riêng chương trình Bậc Kiên như sau:
A. Phật pháp - Tinh thần - Lịch sử
Tổng quan về Phật học
1. Mục đích của Phật pháp, nói pháp, hiểu pháp v hành pháp.
2. Các nét đặc thù của giáo lý Phật gio.
Tinh thần Phật giáo trong sinh hoạt của GĐPT
3. Mục đích (triển khai rộng)
4. Châm ngôn (triển khai rộng)
5. Điều luật: 3 điều của Đồng niên - 5 điều của huynh trưởng và đoàn sinh thanh, thiếu nin (triển khai rộng)
6. Năm hạnh của GĐPT ( - triển khai rộng).
7. Hạnh hiếu của người huynh trưởng GĐPT.
8. Tam quy - Ngũ giới.
9 Lịch sử của Đức Bổn Sư Thích Ca
10. Đức tin của người huynh trưởng GĐPT.
11. Tứ ân - Đạo pháp và dân tộc
12. Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ du nhập đến cuối đời Đinh)
B. Hiểu biết về tổ chức Gia đình Phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam
1. Nội quy Gia đình Phật tử
2. Hệ thống tổ chức Giáo hội Phật gio Việt Nam
3. Ý nghĩa cờ Phật giáo thế giới
4. Nắm vững kiến thức và nội dung chương trình tu học bậc Mở mắt và Cánh mềm ngành Đồng, bậc Hướng thiện ngành Thiếu.
C. Kiến thức tổng quát và khả năng chuyên môn
1. Thuốc lá có hại cho sức khỏe
2. Ký âm pháp
3. Âm Dương lịch
4. Biển báo đường bộ
5. Thể dục thể thao
6. Thủ công và nữ công gia chnh
7. Sử dụng máy vi tính (tùy địa phương)
D. Tu tập tự thân
4 điều xuyên suốt cho 4 bậc.
1. Tôn kính Tam Bảo, thọ trì Tam quy Ngũ giới
- Không sát sinh - nên phóng sanh dù một sinh vật nhỏ
- Không lấy cắp - nên bố thí, làm việc thiện
- Không tà hạnh –chung thủy vợ chồng
- Không nói dối - nên ái ngữ
- Không say rượu – phải tỉnh táo sáng suốt
2. Ăn chay ít nhất 2 ngày/tháng
3. Niệm Phật trước khi ngủ và sau khi thức dậy
4. Thuộc nghi thức tụng niệm tịnh độ của GĐPT

Có 4 trại đào tạo Huynh trưởng từ thấp lên cao: Lộc Uyển (10 ngày đêm, đào tạo Ðoàn Phó), A-dục (10 ngày đêm, đào tạo Ðoàn trưởng), Huyền trang (7 ngày đêm, đào tạo Liên Ðoàn trưởng) và Vạn Hạnh (7 ngày đêm, đào tạo Ban viên BHD).
Tu học là công việc trọng yếu hàng đầu của người Huynh trưởng từ khi mới vào nghề và tiếp nối liên tục không ngưng nghỉ.
Phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực, ý chí nghị lực là những yếu tố để người Huynh trưởng hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm. Những yếu tố ấy chỉ được hình thành bằng con đường tu học.
Con đường phụng sự lí tưởng của người Huynh trưởng là con đưởng đầy gian khó từ những vất vả, trở ngại của cuộc sống đời thường cho đến sinh hoạt xã hội. Nhưng khi đã tự nguyện tự giác chọn GĐPT làm lí tưởng sống, người Huynh trưởng phái chấp nhận gian khổ, hi sinh, luôn tỉnh táo, khéo léo kiên trì vượt qua thì mới đi đến mục đích.

10 điều tâm nguyện của Huynh trưởng
(Sứ mệnh Gia đình Phật tử):
1- Tin vào đạo - Tin vào Gia đình Phật tử
2- Thông suốt đường lối của Gia đình Phật tử
3- Tránh sự huyển dụ của tà thuyết
4- Yêu nghề dạy trẻ
5- Trau dồi kiến thức
6- Tuân kỷ luật - chịu huấn luyện
7- Phát huy sáng kiến
8- Tổ chức đời sống văn minh, khoa học
9- Làm việc có kế hoạch
10- Tác phong nghiêm chỉnh

MỤC ÐÍCH PHẬT PHÁP
Mục đích của GÐPT là đào tạo những Phật tử chân chính và cải tạo đời sống theo tinh thần Phật giáo. Nhưng lấy gì để đào tạo? Dựa vào đâu để cải tạo? Là huynh trưởng, mang trách nhiệm giáo dục các em chúng ta phải nắm vững vấn đề này hơn ai hết. Dĩ nhiên là lấy Phật Pháp để đào tạo, dựa vào Phật pháp để cải tạo. Vậy chúng ta phải thông suốt mục đích của Phật pháp thì việc tu học của bản thân và giáo dục các em mới đúng hướng. Nhưng trước khi tìm hiểu mục đích của Phật Pháp ta cũng cần biết Phật Pháp từ đâu mà hình thành?
1. Sự hình thành Phật Pháp:
Phát xuất từ lòng thương vô biên của Thái tử Tất Ðạt Ða, khi thấy chúng sanh quằn quại trong đau khổ, trong sự giành giựt cấu xé nhau để mưu cầu sự sống, trong đau đớn thảm khốc của già yếu bệnh tật, chết chóc. Tình thương rộng lớn ấy khiến Thái tử phải suy tìm cho ra nguyên nhân khổ đau và phương pháp diệt trừ đau khổ. Qua thực nghiệm, tu hành, lòng từ bi càng mở rộng, công năng tu tập càng lớn lao vượt qua những cam go chướng ngại thì trí tuệ càng phát chiếu sáng ngời. Ðến lúc Thái tử tập trung tư tưởng, chuyên tu thiền định thì trí tuệ càng sáng chói tuyệt đối (gọi là trí tuệ Bát Nhã), nhìn rõ được nguyên nhân đau khổ và phương pháp diệt trừ nó. Tức là đã tu chứng giác ngộ, đạt quả vị Phật (sẽ được rõ hơn qua bài “Cuộc đời đức Phật”). Phật pháp được hình thành qua công năng tu chứng giác ngộ ấy.
Vậy ta phải hiểu rằng: Ðức Phật không phải là đấng thượng đế tối cao hay vị thần linh nào cả mà chỉ là một con người. Nhưng con người đã giác ngộ và giải thoát, nên vượt lên trên tất cả. Như vậy, đạo Phật không phải là đạo thần qưyền thì người theo đạo Phật không phải cốt mong sự cứu rỗi. Do đó, lời dạy của đức Phật (Phật Pháp) không phải là những giáo điều bắt tín đồ phải tuân theo để được sung sướng, để được an vui như một số tôn giáo khác mà chỉ là những lời truyền đạt kinh nghiệm tu chứng của một con người đã hoàn toàn giác ngộ để mọi người có thể nương theo đó mà tu tập và được giải thoát như Ngài. Ðức Phật đã mở rộng con đường tu tập cho mọi người.
Ngài không đứng trên mây cao vút, tuyệt đối của an lạc mà nhìn chúng sanh quằn quại trong bể khổ trầm luân để rồi độc quyền ban phát những ân huệ. Ðức Phật dìu dắt chúng sanh lên đỉnh cao của an lạc ấy, để ai cũng trở thành Phật cả (nếu biết làm đúng theo lời dạy của Ngài). Ðức Phật đã từng nói trong những lúc thuyết pháp: "Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành".
Sau khi đã cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau thì Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại. Nhưng không phải để van xin sự cứu rỗi của Thượng Ðế hay một vị thần linh nào cho ta tới cảnh giới an vui mà Phật Pháp chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát. Không ai cứu rỗi được chúng ta mà phải tự mình cứu lấy mình: “Các ngươi phải tự mình thắp đuốc lên mà đi”.
2. Mục đích của Phật Pháp:
Biết được sự hình thành Phật Pháp, chúng ta sẽ suy ra: Mục đích của Phật Pháp là đưa con người từ khổ đau đến an vui, từ mê lầm đến giác ngộ, từ chỗ trói buộc phiền não đến chỗ giải thoát tự tại. Ngoài mục đích đã nêu trên, các vấn đề khác đều được đức Phật cho là phù phiếm, vô ích cả.
Nói gọn: GIÁC NGỘ VÀ GIẢI THOÁT là mục đích tối thượng, là cứu cánh của Phật Pháp.
Nếu nhận định đúng cuộc đời là vô thường biến dịch không ngừng, là khổ đau chồng chất, vì vô minh mê lầm, cái "Ta" cũng không tồn tại, là uế nhiễm, là vọng động (Bài Ðại Cương Phật Pháp), thì mục đích của Phật Pháp là:
-Ðưa chúng ta đến "chơn thường". Người tu hành để đạt đến quả vị là không bao giờ bị luật vô thường chi phối.
-Ðưa chúng ta tới "chơn lạc". Sự an vui trọn vẹn và bất tận.
-Ðưa chúng ta tới "chơn ngã". Người tu hành được giải thoát hoàn toàn ra khỏi những trói buộc, làm cho con người đầy đủ năng lực để thực hiện ý nguyện tốt đẹp của mình.
-Ðưa chúng ta tới "chơn tịnh". Người tu hành gạn lọc được bao nhiêu ô trọc của cuộc đời để sống một cuộc sống trong trắng tinh khiết không vướng chút bợn nhơ của trần tục, được an nhiên tự tại.
Nếu nhìn sự tác dụng thực tiễn mà nói, thì Phật Pháp với căn bản Từ Bi, làm cho nhân loại yêu thương nhau hơn. Nhờ ánh sáng Trí tuệ, làm cho nhân loại bớt si mê lầm lạc. Thấy được đâu là giá trị thật, đâu là lừa dối. Nhờ tinh thần bình đẳng tuyệt đối của đạo Phật, Phật Pháp san bằng những bất công của xã hội, của nhân loại, và làm cho cảnh giới Ta Bà (thế giới ta đang sống) được hòa vui trong tình nhân loại đại đồng. Nếu nói ngắn gọn lại thì mục đích Phật Pháp là diệt trừ ham muốn, vì ham muốn là cội gốc chính của đau khổ mê lầm. Kinh Dhammapada (Pháp Cú) có nói: "Những người say đắm theo ham muốn, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự buộc ràng, không còn dính mắc nữa thì sẽ xa mọi tiếng khổ để ngao du tự tại." (câu 347)
3. Tinh thần học Phật Pháp như thế nào?
a) Phải có ý chí: Người học Phật muốn tìm giải thoát không nên ỷ lại vào một uy lực nào ngoài mình ra để cứu chữa cho mình..
b) Tư tưởng tự do: Không dụ dỗ ai cùng vào đạo như mình. Người học Phật phải mở rộng trí óc hầu có thể thông cảm với tất cả mọi giáo lý khác. Sự cố chấp, hẹp hòi và cuồng tín là rất trái xa với tinh thần Phật giáo.
c) Không tin tưởng một cách mù quáng: Ðức tin có được là sau khi đã tự mình nhận thức rõ ràng. Phật giáo không chấp nhận niềm tin trước khi đã tự mình nhận thấy và qua kinh nghiệm. Bởi vậy mới nói: “Kiến tánh thành Phật”.
d) Học phải hành: Ðạo Phật không phải chỉ là cái đạo để học mà phải là cái đạo để sống. Có sống trong tâm bình đẳng, xa lìa tâm sai biệt, thì mới gặp được cảnh Niết bàn giải thoát (tuyệt đối).
e) Vì chúng sanh: Người học Phật không những tu tập để giải thoát cho riêng mình mà còn phải nghĩ đến mọi người, những chúng sanh đang đau khổ xung quanh mình. Chúng ta thường nguyện trước bàn thờ: "Từ Bi gia hộ cho chúng đệ tử tâm Bồ Ðề vững chắc, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cùng chúng sanh trong Pháp giới tội chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, một thời đồng chứng Vô Thượng chánh đẳng, chánh giác".
4. Thực hành Phật pháp:
Đối tượng chính giáo hóa của Phật pháp là con người. Nguồi gốc đau khổ của con người là vô minh, do ba thứ độc tham sân si sai khiến gây nên nhửng lời nói, ý nghĩ, việc làm xấu xa, tội lỗi làm mất giá trị của con người chân chính.
Mục đích đầu tiên mà Phật pháp nhắm đến là thực hành Phật pháp. Người học Phật cần tối thiểu trau dồi thực hành:
-Thực hành 5 giới cấm tại gia
-Làm tròn các bổn phận trong gia đình, gia tộc, xóm làng, xã hội và đất nước.
-Sống bằng nghề nghiệp chân chính, lương thiện, phát triển kinh tế, chi tiêu hợp lí.
-Trau dồi, phát huy trí tuệ, văn hóa.
-Sống cuộc đời đạo hạnh mẫu mực.
Tóm lại, trên phương diện đạo lí, Phật Pháp nhằm chuyển hóa con người: Đổi mê ra ngộ- Thấy tánh tỏ tâm- Vượt sống khỏi chết – Lìa khổ được vui.
Đó là mục đích tối hậu của Phật pháp.
Đức Phật đã từng dạy: “Ta chỉ là vị Phật đã thành có nhiệm vụ khai thị Phật tánh cố hữu của các người. Kẻ nào phát huy được Phật tánh ấy sẽ thành Phật”. Như vậy mục đích tối thượng của Phật pháp là THÀNH PHẬT.
(Tham khảo từ một số tài liệu Bậc Kiên các tỉnh thành, Thiện Ngộ viết lại bố cục, nhưng tinh thần bài học vẫn nguyên ý)


HỌC PHÁP – HÀNH PHÁP- XIỂN DƯƠNG PHẬT PHÁP
Phật pháp ra đời và lưu truyền ở thế gian là vì thế gian, vì lợi ích và an lạc hạnh phúc cho loài người và chúng sanh.
Kinh nói về ý nghĩa người Phật tử rằng: “Nếu nói một cách đúng đắn ý nghĩa Phật tử, đó là người được sinh ra từ miệng Phật, được hóa sinh từ Pháp Phật và được kế thừa phần Pháp của Phật”. Vì vậy người Phật tử có nhiệm vụ phải thực hiện 3 hành động quan trọng: Học Pháp, hành Pháp và xiển dương chánh pháp.
1-Học pháp:
Đạo Phật là Đạo giác ngộ nên trí tuệ được coi trọng bậc nhất. Người Phật tử trước hết phải xây dựng niềm tin vào Tam bảo trên căn bản trí tuệ, là sự hiểu biết Phật pháp một cách sáng suốt và đúng đắn. Trong kinh có dạy: “Niềm tin không có trí tuệ, chỉ tăng thêm ngu si”
Phật pháp là chân lí con người cần phải giác ngộ. Phật pháp lại là lí thuyết cao siêu huyền diệu, lại nhiều vô kể, người Phật tử cần tự mình chứng nghiệm mới có thể đạt tới giác ngộ giải thoát. Mà muốn thể chứng thì phải am hiểu Phật pháp. Nêu không am hiểu Phật pháp, không nắm rõ yếu nghĩa của Phật pháp thì không những không thấu đạt chân lí mà còn dễ bị sai lầm rơi vào mê tín dị đoan, các cực đoan tà kiến và thực hành Phật Pháp lệch lạc.
Vậy muốn am hiểu Phật pháp để thực hành thì nhất thiết người Phật tử phải học Phật.
Phương pháp học Phật là áp dụng ba nguyên tắc cơ bản then chốt với tất cả các Pháp môn gọi là 3 môn Huệ học: Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ.
-Văn huệ: là nghe lời thuyết giảng, giọng đọc, tiếng tụng, mắt đọc văn tự, xem hình ảnh, nghiên cứu kinh điển. Văn huệ là cửa ngõ hành trình về chân lí.
-Tư huệ: là suy nghĩ, phân tích, lí luận, giải thích, nhận định các nguyên nhân hậu quả, các sự kiện, qui luật hiện tượng, ý nghĩa của những lời đã nghe, những điều đã thấy, những lí thuyết đã học…. để xác định, phân biệt đúng sai, chánh tà chơn ngụy.. mà nên tin hay không nên tin, nên làm hay không nên làm, cho niềm tin được chân chính, hành động không sai lầm tai hại.
Tu huệ: là tu tập thực hành, thể hiện những điều đã nghe thấy, hiểu biết, đã suy nghĩ, nhận định là đúng sự thật, để thể nhập chân lí giác ngộ giải thoát.
Việc tu học Phật pháp theo ba phương pháp Văn, Tư, Tu là rất quan trọng nên Đức Phật có dạy: “Phải cầu nghe Phật pháp, nghe xong phải ghi nhớ, ghi nhớ rồi cần phán xét, phát xét rồi cần phải tiến tu”.
Đối với người Huynh trưởng thì việc học Phật pháp càng cần thiết và quan trọng hơn, là hành trang cần thiết trên con đường giáo dục đoàn sinh và hoằng dương chánh pháp. Vì vậy, người Huynh trưởng phải không ngừng học Pháp để tăng trưởng niềm tin, mở mang trí tuệ… là chất dinh dưỡng cho đời sống tinh thần và làm lợi khí trên đường hoạt động GĐPT.
2-Thực hành Phật pháp:
Phật pháp là chân lí do chính Đức Phật khám phá ra, trải qua kinh nghiệm thực chứng thể nghiệm. Mọi người muốn giác ngộ chân lí cũng phải trải qua quá trình thực chứng như Đức Phật.
Phật pháp còn là những phương tiện tu hành để đoạn trừ phiền não khổ đau, là con đường đến đích giác ngộ, là chiếc thuyền qua sông giài thoát, là phương thuốc chữa lành tâm bệnh chúng sanh.
Phật pháp còn là thiện pháp tức là các phép tắc đạo đức. Ai sống có đạo đức, hợp đạo lí thì xứng đáng nhân cách và an lạc hạnh phúc.
Như vậy Phật pháp là chân lí sống động, khả thi và diệu dụng chứ không phải chỉ là lí thuyết suông. Nếu Phật pháp chỉ nằm trên trang kinh và cứng nhắc thì không còn là Phật pháp.
Người tu hành phải thực hành, ứng dụng Phật pháp vào đời sống cá nhân, gia đình xã hội như người thợ phải có dụng cụ hành nghề, như người qua sông phải lên thuyền, người bệnh phải uống thuốc… Chỉ có thực sự thực hành Phật pháp vào đời sống thì Phật pháp mới thật sự có lợi ích cho đời và cần tồn tại lưu truyền trên thế gian.
Thực hành Phật pháp, sống pháp còn là một hình thức phổ biến Phật pháp, là một hình ảnh tiêu biểu sống động để xiển dương và lưu hành Phật pháp.
Kinh Lăng Nghiêm có dạy: “Nếu học hỏi nhiều mà không thực hành thì cũng như không học hỏi, như người nói ăn mà không ăn thì không bao giờ no được”. Sách Luận Đại Trí độ cũng ghi: “Phật pháp quí trọng sự thật hành chứ không quí trọng sự nói suông”
Đối với người Huynh trưởng GĐPT, sự hành trì Phật pháp, sống Đạo lại vô cùng quan trọng, bởi vì cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội của người Huynh trưởng không phải chỉ là thể hiện kiến thức Phật pháp mà chính là tấm gương sáng về nhân cách đạo đức về nhân cách Phật giáo cho các em noi theo tu học, thân giáo của người Huynh trưởng là cơ sở đáng tin cậy nhất đối với phụ huynh, hội hữu và quần chúng.
3-Hoằng dương Phật pháp.
Ngoài việc tu học Phật pháp và thực hành ứng dụng Phật pháp để được an vui giải thoát, người Phật tử còn có bổn phận hoằng dương Phật pháp để Phật pháp được phổ biến rộng khắp và lưu truyền về sau.
Đạo Phật ra đời là để mưu cầu hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích cho số đông, đem vui, bớt khổ cho mọi loài, mọi người. Cho nên Phật pháp không phải của riêng ai, của giai cấp nào mà là của chung mọi loài, mọi người, vì vậy Phật pháp phải được truyền khắp nhân gian và mãi mãi về sau.
Hoằng dương và lưu truyền chánh pháp là nhiệm vụ chính yếu của các bậc xuất gia, đồng thời cần sự hỗ trợ hữu hiệu của hàng Phật tử tại gia. Người Phật tự tại gia sống gần gũi với cộng đồng nên rất thuận lợi cho việc hoằng dương chánh pháp. Với đời sống gương mẫu, việc làm lợi ích, lời nói tốt đẹp sẽ khuyến hóa và cảm thông được người xung quanh.
Trong lịch sử Đạo Phật đã có nhiều tấm gương hộ trì Phật pháp của hàng Phật tử tại gia vĩ đại như Ông Cấp Cô Độc, Thái tử Kì Đà, Vua Tần Bà Sa La, Vua Ba Tư Nặc, Vua A Xà Thế, Hoàng hậu Vi đề Hi, Bà ViSaKha, Vua A Dục, Lương Võ Đế (Trung Hoa), các vị hoàng đế Đinh, Lê, Lý, Trần của Việt Nam và vô số Phật tử tại gia hữu danh, vô danh khác. ..
Xiển dương Phật pháp thì tùy năng lục, cơ duyên, hoàn cảnh tâm nguyện của mỗi người có thể thực hiện bằng mọi cách như đi chùa, tụng kinh, thờ Phật, Lễ Phật, bố thí, cúng dường cho đến tạo tượng, đúc chuông, xây chùa, dựng tháp, trước tác, giảng giải, in phát kinh sách.... và diển nói Phật pháp là hình thức quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng hơn cả.
-Các nguyên tắc diễn nói Phật pháp:
+Phải am hiểu Phật pháp để giảng giải đúng chân lí.
+Phát tâm từ bi, vô ngại, không cầu danh, chấp tướng, vụ lợi.
+Diễn nói hợp cơ, đúng thời, ngôn ngữ thích nghi thì người nghe mới có thể tiếp thu lãnh hội giáo pháp và phát tâm tu tập thực hành.
+Thực hành tứ nhiếp pháp là bố thí (san sẻ), ái ngữ (đẹp lời), lợi hành (ích người), đồng sự (gần gũi) để có thể thu nhiếp, khuyến khích, cảm hóa và dẫn dắt họ cùng đi trên con đường giác ngộ giải thoát.
+Tự mình sống đúng chánh pháp để thể hiện: “lời nói đi đôi với việc làm” làm cho mọi người tin tưởng, kính phục mà noi theo.
Công năng nghe pháp là rất vi diệu như kinh Pháp cú Thí dụ nói: “Như hồ nước rất sâu
Trong lặng sáng một màu
Người trí tuệ nghe pháp
Tâm thanh tịnh hết sầu” (Thích Minh Quang)
Nghe Pháp đã có năng lực vi diệu như vậy thì diễn giải, giảng nói Phật pháp công đức và ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng hết sức lớn lao.
Đối với người Huynh trưởng GĐPT, việc giảng dạy Phật pháp là công việc trọng tâm và quan trọng nhất trong các hoạt động nên cần phải lưu tâm và thận trọng.
Người Huynh trưởng không những phải học tập nâng cao kiến thức trình độ về nội minh (tức giáo lí, Phật pháp) mà còn phải rèn luyện năng lực về nhân minh (tức phương pháp lí luận) và trau dồi cả về thanh minh (ngôn ngữ văn học) rồi biết vận dụng kết hợp khéo léo chặt chẽ nhuần nhuyễn ba môn học ấy lúc giảng dạy Phật pháp thì việc làm cao cả của chúng ta mới mang lại kết quả và ý nghĩa tốt đẹp.
Người Huynh trưởng phải thực hành Phật pháp trong cuộc sống bằng cách tu tâm, dưỡng tánh, bỏ ác làm lành, giới hạnh trang nghiêm, sống đời chân chính thanh cao mới xứng đáng vai trò của người giảng nói và truyền bá Phật Pháp.
KẾT LUẬN:
Do thương tưởng chúng sanh mà Đức Phật ra đời, từ bỏ cuộc sống cao sang, quyền thế, xuất gia tìm Đạo giải thoát và ròng rã 49 năm bôn ba, gian khó, tùy cơ thuyết pháp độ sanh.
Để đền đáp công ơn cao cả của Đức Phật, người Huynh trưởng phải siêng năng tu học và nỗ lực thực hành Phật pháp, góp phần truyền bá sâu rộng và trường tồn cho mọi người được giác ngộ, giải thoát. Phật dạy: “Trong tất cả sự cúng dường, cúng dường chánh pháp là hơn hết”
Cúng dường chánh pháp là tự mình sống đúng chánh pháp và khuyên người khác sống đúng chánh pháp.
Kinh Hiền Nhân dạy rằng: “Không phải chỉ có chùa to, Phật lớn, danh xưng kêu là có sự hiện diện của chánh pháp, mà chỉ có ở đâu có tăng ni, Phật tự chân tu thực học thì ở đó mới đích thực có sự hiện diện của chánh pháp”.


TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ CỦA GIÁO LÍ PHẬT GIÁO
Giáo lí của Đức Phật cao siêu, vô lượng, nhưng nếu sáng suốt kiên nhẫn nghiên cứu sẽ thấy các tính chất cơ bản, đặc thù, và dựa vào đó, chúng ta có thể mạnh dạn tiến bước trên đường học đạo và hành đạo, đó là;
1-Đúng chân lý (Khế lí):
Đây là tính chất cơ bản nhất của Phật pháp, vì Đạo Phật là đạo của Giác ngộ, đạo của giác ngộ nên đề cao chơn lí lên hàng đầu. Vì vậy Đạo Phật còn gọi là Đạo của sự thật, Đạo chánh giác.
Tất cả giáo lí của Đức Phật đầu căn cứ vào sự thật mà nhờ anh sáng trí tuệ và công phu tu chứng ngài đã phát hiện và chứng ngộ chơn lí của vạn pháp, qui luật vận động, nguồn gốc, nhân duyên sanh – trụ- hoại- diệt của mọi hiện tượng vạn hữu, nguồn gốc của mọi tội lỗi và đau khổ của kiếp người. Ngài chứng ngộ như thế nào thì ngài giải minh đúng như thế để mọi người cùng chứng ngộ chứ không vẽ vời, thêm bớt.
Chính Đức Phật đã xác định: “Ta sẽ dạy các thầy sự thật và con đường đưa đến sự thật”
Kinh Dược sư nói rằng:
“Sao trăng có thể rơi
Núi đá có thể lở
Biển Đại dương có thể cạn
Nhưng lời nói của Đức Phật
Trăm kiếp ngàn đời vẫn như thật”
Như vậy giáo lí của Đức Phật là luôn đúng chân lí, Đạo Phật là đúng chân lí, là sự thật của vũ trụ và nhân sinh, là đạo chánh tín và Đức Phật là Đấng chánh biến tri.
2-Phù hợp với căn cơ từng hạng người: (Khế cơ)
Sau khi mới thành đạo, Đức Phật thấy giáo lí ngài chứng ngộ hết sức vi diệu, còn tâm tánh chúng sanh thì quá u tối mê mờ, khó bề tiếp thu giáo pháp. Nhưng rồi, Ngài thấy rằng tuy chúng sanh có mê mờ, trình độ có thấp cao nhưng đều có thể tiếp nhận và có thể giác ngộ, từ đó Đức Phật quyết định vân du khắp chốn và tùy duyên thuyết pháp độ sanh.
Vì vậy, Phật pháp có hàng vạn pháp môn là đề thích ứng với căn cơ, trình độ của muôn loài, nhưng Phật pháp vẫn luôn luôn đúng chân lí và không hề rời xa mục đích tối hậu là giác ngộ giải thoát, cho nên nói Phật pháp tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.
Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn cố gắng thực hiện hai điều đó là khế lý và khế cơ. Nếu thiếu đi một trong hai yếu tố này Phật giáo sẽ chẳng còn là Phật giáo nữa. Duy trì và phát triển hai yếu tố này, Phật giáo được truyền vào Việt Nam và các nước khác.
3-Phù hợp với thời cơ, hoàn cảnh (Khế thời)
Tính cách khế thời nghĩa là Phật pháp có thể ứng dụng phù hợp trong bất cứ không gian và thời gian nào, bất cứ quốc gia, lãnh thổ và thời đại nào.
Nhờ tính cách khế thời mà Phật pháp đã lan truyền mau chóng và rộng khắp ngay trong thời Phật tại thế và cho đến sau này, không những chỉ ở Ấn Độ mà trên toàn thế giới. Đến đâu, Phật pháp cũng đều được tiếp nhận với tinh thần tự nguyện, tự giác, dù phong tục tập quán hay bản sắc dân tộc có khác nhau.
Cho đến hôm nay, nền văn minh khoa học đã phát triển vượt bậc, nhưng Phật pháp vẫn không lỗi thời, luôn được loài người yêu chuộng hòa bình ngưỡng mộ, nghiên cứu học tập và xiền dương rộng khắp.
4-Phật pháp là phương tiện để đạt đến cứu cánh là giác ngộ, giải thoát.
Phật pháp tuy rất bao la, cao siêu và mầu nhiệm, nhưng đều là phương tiện có tác dụng và công năng là đưa con người đạt đến mục đích tối thượng của Đức Phật là giác ngộ chúng sanh.
Chính Đức Phật đã dạy rằng: “Giáo pháp của Đức Phật giống như chiếc thuyền bè đưa người qua sông, chính pháp còn phải bỏ đi nữa là phi pháp” (kinh Kim Cương) Cho nên có thể nói Phật pháp là con đường dẫn con người đến giác ngộ, do bậc Đạo sư là Phật Thích Ca chỉ lối. Phât pháp là vị lương y chẩn bệnh kê đơn, là cây cầu, chiếc thuyền đưa người qua khỏi bến mê tới bờ giác ngộ, là phương pháp thực hành để thanh lọc thân tâm, khơi nguồn trí tuệ để xây dựng cuộc sống an toàn trong xã hội bình đẳng.
5-Tính chất nhân bản trong giáo lí Đạo Phật
Phật pháp lấy con người làm gốc, con người là đối tượng giáo hóa của Phật pháp, và trước sau Phật pháp chỉ một mực mưu cầu hạnh phúc an lạc cho con người.
-Giá trị cao cả của con người: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Chỉ có con người mới có khả năng tự định đoạt số phận mình bằng sự nỗ lực tự thân để đạt đến trí thức, phát hiện chân lí, chứ không do một ai khác vì con người là hơn cả vì có thể thực hiện tất cả sự tốt đẹp”.
-Khả năng giác ngộ của con người: Đức Phật đã xác định khả năng giác ngộ của con người: “Mọi chúng sanh đều có Phật tánh” và nêu lên qui luật bình đẳng giữa muôn loài: “Không có giai cấp trong máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn” Phật và chúng sanh là cùng thể tánh, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”
Giáo lí nhân bản và chúng sanh bình đẳng của Đạo Phật là một tư tưởng hết sức cấp tiến và hi hữu, đáng trân trọng và rất cần được áp dụng thực hành cho lợi ích hạnh phúc của con người.
6- Tính chất thể nghiệm:
Phật pháp là kết quả của một quá trình nghiền ngẫm, tư duy bền bĩ để khám phá chân lí một cách triệt để và xác chứng kết quả bằng thể nhập chân lí.
Giáo lí của Đạo Phật nhằm vào sự thực hành để chuyển hóa hoàn cảnh và xây dựng cuộc sống. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:”Nếu học hỏi nhiều mà không thực hành thì cũng như không học hỏi. Như người nói ăn mà không ăn thì không bao giờ no được”Luận Đại Trí độ nhấn mạnh : “Phật pháp quí trọng sự thực hành chứ không quí trọng sự nói suông”
Cho nên nói Phật pháp là phương tiện, là con đường TRI và HÀNH để đưa con người đến mục đích giải thoát.
KẾT LUẬN:
Phật pháp là siêu huyền, khó hiểu nhưng có những đặc điềm cơ bản phù hợp với khoa học và hợp chân lí, hợp cơ, khả thi, thích hợp với tư tưởng tiến bộ của loài người là nhân bản và tự chủ nên có thể đáp ứng khát vọng chân lí hòa bình và hạnh phúc của nhân loại. Đến với Đạo Phật là đến với Trí tuệ và Giác ngộ.
MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
Là một tổ chức thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Gia đình Phật tử (GĐPT) được thành lập, hoạt động và tồn tại phát triển trên 50 năm nay và có mục đích minh bạch rõ ràng.
I- SỰ XÁC LẬP VÀ PHÁT HUY MỤC ĐÍCH CỦA GĐPT QUA CÁC THỜI KÌ:
-Trong thời kì tiền thân GĐPT, khởi đầu là Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục ra đời năm 1940, mục đích của Đoàn được xác định là: “Để người thanh niên nghiên cứu học tập thực hành theo giáo lí Đạo Phật, tu sửa mình cho thanh cao, nêu gương tốt và đạo đức Phật giáo ra ngoài xã hội”
-Khi các đoàn viên Phật học Đức dục thành lập các đơn vị Gia đình Phật Hóa Phổ thì trên tinh thần ấy mà các lập mục đích là: “Đào tạo những Phật tử chân chính, xây dựng hạnh phúc gia đình trên nền luân lí Phật giáo”
-Đến năm 1951, hội nghị các Gia đình Phật Hóa Phổ cà nước thống nhất đổi tên thành GĐPT, thiết lập nội qui, chương trình tu học thì mục đích GĐPT được xác lập là: “Mục đích của GĐPT là huấn luyện thanh thiếu đồng niên Phật tử về ba phương diện trí dục, đức dục, thể dục trên nền tảng Phật giáo để đào tạo những Phật tử chân chính”
-Đại hội GĐPT vào đầu tháng 8/1958 đã tu chỉnh mục đích: “Mục đích của GĐPT là đào tạo những Thanh, Thiếu và Đồng niên Phật tử thành những Phật tử chân chính để phục vụ chánh pháp và thành những hội viên xứng đáng của hội”
¬-Đại hội GĐPT năm 1964 mục đích được tu chình cô đọng là : “Đào luyện thanh thiếu đồng niên thành Phật tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo” Mục đích này được duy trì cho đến năm 2000.
Ngày 28-29/7/2001, Hội nghị Huynh trưởng Cấp Dũng, Tấn GĐPT toàn quốc tại Chùa Từ Đàm- Huế, một lần nữa tu chỉnh nội qui và được hội đồng trị sự GHPGVN ban hành bằng quyết định số 045/QĐ/HĐTS ngày 29/01/2002.

Trong nội quy GĐPT lần này, phần mục đích GĐPT được thêm bớt một số từ ngữ cho phù hợp, đầy đủ ý nghĩa giáo dục của GĐPT;
Mục đích GĐPT là:
-Đào luỵên Thanh-Thiếu -Đồng niên tin Phật thành Phật Tử chân chánh-
-Góp phần phụng sự Đạo Pháp và xây dựng xã hội.
II-TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA MỤC ĐÍCH GĐPT
1-Mục đích của GĐPT mang nội dung giáo dục trên nển tảng tinh thần giáo lí Đạo Phật.
Đạo Phật xuất hiện ra đời là mưu tìm an lạc hạnh phúc cho chúng sanh. Muốn có an lạc hạnh phúc cho con người và xã hội tốt đẹp bình an thí mỗi con người phải chuyển hóa tâm ý mình cho thuần lương, sống thiện và có đạo đức. Vì vậy mục đ1ich chình của Đạo Phật là nhằm giúp con người chuyển hóa tự thân và cải tạo xã hội.
Riêng đối tượng của GĐPT chỉ giới hạn trong đối tượng thanh thiếu đồng niên Phật tử nên mọi hoạt động của GĐPT qua các bộ môn đều là phương tiện nhằm thực hiện mục đích giáo dục của Phật giáo.
2-Mục đích của GĐPT là chính đáng và phù hợp với nhu cầu của tuổi trẻ.
Tuổi trẻ là lứa tuổi đang phát triển đang phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần nên có rất nhiều nhu cầu cần được đáp ứng phù hợp cả về mặt đức dục, trí dục và thể dục.
Tuổi trẻ là mầm non của Đạo pháp và là tương lai của đất nước nên cần được chăm sóc và vun xới. Vì vậy mục đích của GĐPT là hình thành người Phật tử chân chính để xây dựng đời sống cá nhân, gia đình hạnh phúc và góp phần xây dựng xã hội thì quả là mục đích chình đáng.
3-Mục đích của GĐPT trước sau vẫn không thay đổi.
Mục đích của GĐPT qua nhiều lần tu chỉnh nhưng chỉ là thay đổi vè mặt hình thức và chình sửa ngôn từ cho phù hợp với cơ cấu tổ chức và nhu cầu xã hội. Nội dung cốt lõi của mục đích GĐPT vẫn là đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thấm nhuần giáo lí để thực hành Phật pháp trong đời sống, góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội. Đó là mục đích duy nhất, minh bạch, trước sau như một của GĐPT
III-PHÂN TÍCH MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ:
Mục đích GĐPT hàm chứa rõ rệt 2 phần nội dung là phần tự lợi và tự tha.
+Phần tự lợi là phần đào luyện tự thân để lợi ích cho chính bản thân người đoàn viên GĐPT, chuyển hóa hoàn cảnh tự thân để xây dựng cuộc sống cho gia đình hạnh phúc, tức là nhằm tự lợi. Phần này thể hiện qua đoạn văn: “Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính”
+Phần lợi tha là phần đem lại lợi ích cho người khác, đem vui cho tha nhân và cộng đồng, vì chỉ biết tự lợi là ích kỉ, hẹp hòi, vị ngã, không ích lợi cho ai, không thể gọi là Phật tử chân chính.
Hai phần tự lợi và tự tha phải gắn kết chặt chẽ và hỗ tương cho nhau, muốn đem lợi ích cho tha nhân, phụng sự đạo pháp thỉ trước tiên phải chu toàn gia đình, và làm lợi cho đạo cho đời chính là làm lợi cho cộng đồng, trong đó có gia đình và cá nhân mình.
1) ĐÀO LUYỆN THANH THIẾU ĐỒNG NIÊN THÀNH PHẬT TỬ CHÂN CHÁNH:
* Thanh- Thiếu- Đồng niên nói cho đủ là : Thanh niên, Thiếu niên ,Nhi đồng ( gồm cả nam và nữ )
- Thanh niên là những người tuổi đời từ 18 trở lên .
- Thiếu niên là những em từ 13 đến 17 tuổi .
- Nhi đồng là những em từ 6 đến 12 tuổi.
* Tin Phật : ở đây chỉ đề cập tới những thanh- thiếu - đồng niên có niềm tin vào Đạo Phật , chứ không nói tất cả thanh- thiếu - đồng niên trong xã hội.
* Phật tử chân chánh : Thế nào là Phật tử chân chánh? Phật tử chân chánh phải có những điều kiện như sau:
+ Đã quy y Tam Bảo và giữ 5 giới ( đối với các em nhỏ có thể giữ giới tuỳ theo khả năng , không đòi hỏi giữ đủ 5 giới )
+ Phải tu tập Năm Hạnh của chư Phật và Bồ tát là: Tinh tấn, Hỷ xả , Thanh tịnh , Trí tuệ, Từ bi.
-Tinh tấn : là siêng năng làm các việc thiện ; Siêng năng trong công việc học hành , làm ăn để xây dựng đời sống sung túc . Siêng năng tu học để sớm tìm được niềm an lạc tinh thần bên cạnh đời sống vật chất .
- Hỷ xả : là không làm nô lệ cho tiền tài , danh vọng ; Vui vẻ tha thứ lỗi cho người khác ; Biết tìm niềm vui trong chánh pháp - Trí tuệ: là nhận rõ chân lý mọi sự vật trong cuộc sống . Muốn có trí tuệ , người Phật tử phải siêng năng tu học theo lời dạy của Phật.
- Thanh tịnh : là sống trong sạch từ thể xác cho đến tâm hồn . Biết giữ vệ sinh cá nhân và vệ sinh cho môi trường chung quanh : Luôn suy nghĩ , ăn nói và hành động theo chánh pháp .
- Từ bi : là thương yêu mọi người , mọi loài bằng một tình thương cao cả . Luôn giữ cho suy nghĩ , lời nói và việc làm của mình không phương hại đến người khác . Thường nghĩ đến kẻ bất hạnh để giúp cho họ . Xem tất cả chúng sanh đều bình đẳng .
+ Ngoài việc tu tập 5 hạnh , người Phật tử chân chánh là người sống theo Bát Chánh Đạo .
1- Chánh kiến : hiểu biết mọi việc theo đúng sự thật và hợp với chánh pháp
2- Chánh Tư duy: suy nghĩ mọi việc một cách chân chính hợp với lời Phật dạy.
3- Chánh Ngữ: lời nói chân chính,hợp với chánh pháp.
4- Chánh Nghiệp: suy nghĩ, lời nói và hành động chân chính để tạo nghiệp thiện trong đời sống.
5- Chánh Mạng: chọn nghề lương thiện để làm phương tiện sống.
6- Chánh Tinh tấn:siêng năng tu học và thực hành lời Phật dạy.
7- Chánh Niệm: luôn ghi nhớ hình ảnh trang nghiêm và các hạnh lành của chư Phật.
8- Chánh Định: tu thiền định theo chánh pháp.

2-)GÓP PHẦN PHỤNG SỰ ĐẠO PHÁP VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI:
*Phụng sự Đạo Pháp: là hết mình phục vụ Giáo Hội với tinh thần bất vụ lợi. Sẵn sàng hy sinh đến cả tính mạng nếu Đạo Pháp bị đàn áp hay xâm hại. Phục vụ Giáo Hôi gồm từ việc nhỏ như; hỗ trợ đời sống Tăng, Ni; đóng góp công sức, tiền của cho các hoạt động của chùa và Giáo Hội; góp công truyền bá chánh pháp đến cho mọi người; tham gia vào các tổ chức Giáo Hội v..v..
* Xây dựng xã hội : người Phật Tử thực hành Năm Hạnh vào đời sống sẽ đem lại an lạc cho xã hội; người Phật tử sống theo Bát Chánh Đạo sẽ làm cho xã hội bớt đi tội ác, tăng thêm hạnh phúc. Đó là chúng ta đã góp phần xây dựng một xã hội an lành vậy.
IV-HUYNH TRƯỞNG VÀ ĐOÀN SINH ĐỐI VỚI MỤC ĐÍCH GIA ĐÌNH PHẬT TỬ:
1-Am hiểu và chấp nhận mục đích Gia đình Phật tử:
Huynh trưởng và đoàn sinh gia nhập GĐPT có thể từ những lí do và cơ duyên khác nhau, nhưng điều căn bản là đều tự giác, tự nguyện và am hiều rồi chấp nhận mục đích của GĐPT là chính đáng và phù hợp mới gắn bó lâu dài với tổ chức.
2-Tin tưởng vào mục đích của Gia đình Phật tử:
-Tin rằng GĐPT giúp ta hướng thiện và gia đình được hạnh phúc, là sức mạnh tinh thần hướng thượng vì tổ chức GĐPT là vô vị lợi, vô ngã, vị tha.
-Tin rằng GĐPT sẽ trường tồn cùng Đạo pháp. Chúng ta tự hào và vinh dự là người Huynh trưởng của GĐPT, một tổ chức có mục đích chính đáng, lí tưởng rõ ràng.
KẾT LUẬN:
Mục đích của GĐPT được xây dựng trên nền tảng giáo lí Đạo Phật, mục đích này rõ ràng, đúng đắn và trước sau như một. Huynh trưởng và đoàn sinh chúng ta cùng nỗ lực, tinh tấn, kiên trì tu học, sống và phụng sự với tất cả niềm tin và tinh thần để thực hiện mục đích cao cả của GĐPT.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Re: Bậc Kiên   Wed 20 Jan 2010, 02:13

CHÂM NGÔN GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
Châm ngôn là một câu nói ngắn gọn nêu lên những điều làm chuẩn mực, gương mẫu vể đạo đức, phẩm hạnh, lối sống, tinh thần cao thượng nhằm khuyến hóa, khích lệ con người làm theo và truyền cho nhau học tập, thực hành để thể hiện là con người đức hạnh, có giá trị.
Châm ngôn của GĐPT là : BI TRÍ DŨNG.
I-LÝ DO CHỌN BI TRÍ DŨNG LÀM CHÂM NGÔN:
GĐPT là một tổ chức giáo dục thuộc GHPGVN có nhiệm vụ đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính trên nền tảng giáo lí Đạo Phật.
Giáo lí Đạo Phật vô lượng mênh mông, nhưng có thể bao quát vào ba điều căn bản nhất là Từ bi, Trí Huệ và Dũng Lực gọi tắt là Bi Trí Dũng mà bài tựa Kinh Lăng Nghiêm nói là Đại Hùng, Đại Lực, đại Từ Bi.
Đạo Phật nêu cao tình thương yêu rộng lớn nên lấy Từ bi làm động lực cho mọi hành động. Mục đích của Đạo Phật là giác ngộ chân lí, giái thoát khổ đau nên lấy Trí huệ làm gốc. Trên đường giác ngộ và hành thiện lợi tha, người tu hành phải vận dụng tinh thần dũng cảm hi sinh làm sức mạnh để chiến thắng mọi trở lực, chướng ngại, vượt qua sự quấy phá cám dỗ tầm thường nhằm tiến tới mục đích giác ngộ.
Một Phật tử chân chính là đã thọ trì tam qui, ngũ giới và sống theo năm hạnh tức là đã thực hành BI TRÍ DŨNG. GĐPT chọn Bi Trí Dũng làm châm ngôn nghĩa là làm nền tảng cho tinh thần giáo dục, làm tiêu điểm hướng đạo cho mọi hoạt động tổ chức tu học và kim chỉ nam cho Huynh trưởng và đoàn sinh trong mọi sinh hoạt của GĐPT và đời sống..
II-Ý NGHĨA BI TRÍ DŨNG
1-BI: Nói đầy đủ là Từ Bi
Từ có nghĩa là: Cho vui tất cả chúng sanh
Bi nghĩa là diệt khổ tất cả mọi loài.
Từ bi là lòng thương yêu rộng lớn cao cả vô biên, thúc đẩy con người luôn sẵn sàng đem tất cả khả năng, tinh thần, nghị lực và phương tiện để cứu giúp tất cả mọi loài, mọi người, thoát khổ được an vui vể cả vật chất lẫn tinh thần. Đức Phật xuất hiện ra đời rồi tử bỏ ngôi báu và đời sống tột đỉnh quyền quí cao sang xuất gia tìm đạo rối phải trải qua muôn ngàn gian khổ để vân du hóa độ là bởi lòng thương tưởng vô tận đối với mọi loài chúng sanh phải triền miên sống trong tối tăm đau khổ. Cho nên Đạo Phật là Đạo Từ bi, Đức Phật là hiện thân của tình thương rộng lớn cao cả. Vì thế người Phật tử noi gương Đức Phật lấy Từ bi làm một trong các Đức hạnh căn bản cho mình. Trên cơ sở ấy, GĐPT nhằm giáo dục, huân tập cho Đoàn sinh hình thành và tăng trưởng lòng thương cao thượng của Chư Phật, quí trọng sự sống, muốn cho đời được tốt đẹp an lạc mà ra sức giúp đỡ, chở che cứu khổ đem vui cho mọi loài, mọi người.
Người Phật tử lấy Từ bi làm chất liệu kết giao, làm men xúc tác hòa hợp để cộng tồn cùng xã hội bình đẳng, thương yêu, an vui và sống đời có ý nghĩa thanh cao.
Khi thực hành Đức Từ bi, người Phật tử cũng còn phải hiểu rằng;
-Từ bi không phải chỉ là tình thương giới hạn trong gia đình, bạn bè, xóm làng, đất nước.. mà còn rộng ra cả đồng loại, muôn loài, muôn vật.
-Từ bi lại không có sự phân biệt thân sơ, ân oán, bạn thù, giai cấp. . . mà là bình đẳng, vô ngại.
Từ bi cũng không phải do cầu danh, chấp tướng, không mưu cầu báo đáp, lợi dưỡng mà phải xuất phát từ lòng chân thật, vô ngã, vị tha.
2-TRÍ: Đạo Phật là Đạo giác ngộ, Đức Phật là hiện thân của giác ngộ, của Trí huệ nên lấy Trí huệ là gốc, Trí huệ là hiểu biết sáng suốt, đúng đắn, cùng khắp, nhận chân sự thật.
+Hiểu biết đứng đắn: Là thực tướng sự vật của sự thật, sự việc như thế nào thì nhận xét hiểu biết đúng như vậy, không lệch lạc, sai lầm. hư dối.
+Hiều biết cùng khắp: là hiểu biết rộng rãi, bao trùm tất cả từ cảnh vật hữu hình đến vô hình, từ sự đến lý, từ chủ quan đến khách quan, nội tâm đến ngoại cảnh, từ nguyên nhân đến quá trình vận động và kết quả, tất cả đều thấu đáo rõ ràng, chính xác và triệt để.
Trí huệ là yếu tố vô cùng quan trọng. là điều kiện bậc nhật để con người phân biết chơn vọng, chánh tà, thiện ác, phá trừ bóng tối của si mê, lầm lạc, giác ngộ chân lí, lìa khổ được vui, vỉ thề Đạo Phật còn gọi là Đạo Như Thật.
Do đó GĐPT nhằm rèn luyện Đoàn sinh biết trau dồi, phát huy trì huệ, cầu tiến và tiến bộ mãi, có trí óc sáng suốt để xét đoán sư vật, sự việc được chính xác, tôn trọng sự thật không mê tín, hư ngụy, man trá, lừa dối, ý nghĩ lời nói việc làm luôn phân minh hợp lẽ, hợp tình, không manh động sai lầm bởi mù quáng cuồng si.
3-DŨNG; Dũng lực hay hùng lực là dũng mãnh tiến lên không yếu đuối hèn nhát, biếng nhác trễ nãi, gián đoạn mà luôn luôn chịu khó nhẫn nại, can đảm siêng năng, chuyên cần, không ngừng tiến bước trên con đường giác ngộ hành động tự lợi, tự tha.
Nhờ có dũng lực thì bên trong mới tự chiến thắng mình, uốn dẹp phiền não, tham sân si. Bên ngoài thì vượt qua mọi trở lực khó khăn.
Con đường giác ngộ, giải thoát là con đường đấy gian khổ, gai góc, sự nghiệp hành đạo học đạo cũng lắm chướng ngại, khó khăn, không thể một sớm một chiều mà thành tựu, không có điểm dừng chân. Chính Đức Phật bằng dũng lực vô song mới có thể xả quốc thành thê tử, đoạn tuyệt quyền uy sang quí với ý chí kiên cường mãnh liệt ngài mới chiến thắng tất cả ma vương để thành chánh giác rồi vượt qua muôn ngàn gian khổ để thuyết pháp độ sanh, đem lại an lạc cho đời.
Đức Phật quả là biểu tượng sáng ngời của tinh thần Đại Dũng và Đạo Phật còn mệnh danh là Đạo Hùng lực.
Cho nên GĐPT lấy Dũng lực làm châm ngôn nhằm huân đúc cho Đoàn sinh có tinh thần trong sáng, thanh cao, có ý chí dũng mãnh, có nghị lực kiên cường làm sức mạnh tinh thần để kiềm chế dục vọng, ngăn chặn các thói hư tật xấu, chiến thắng sự đe dọa. cám dỗ của cuộc đời, không chùn bước thoái lui trước những khó khăn, kiên trì chịu đựng gian khổ, bất khuất trước nghịch cảnh, mỉm cười với ngang trái, thắng không kiêu, bại không nản, biết tự chủ, sống đời trung thực, liêm chính, không xu phụ luồi cúi, sợ sệt, siêng năng và hi sinh để tiến thủ trên đường học đạo và phụng đạo ích đời. Ngoài ra, ngưởi Phật tử còn phải rèn luyện thân thể, giữ gìn sức khỏe, không chơi bời trác táng, say sưa, nghiện hút, phòng ngừa bệnh tật để có sức chịu đựng dẻo dai, sức hoạt động mạnh mẽ mới có thể đảm đương công tác GĐPT làm việc đạo, hoàn thành nghĩa vụ xã hội.
III-SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA BI TRÍ DŨNG.
Ba đức tính BI TRÍ DŨNG liên quan mật thiết, bổ sung, hổ tương lẫn nhau không thể thiếu một mới có thể tạo thành sức mạnh toàn diện của Đạo Phật và làm cho cuộc sống con người đầy đủ ý nghĩa.
Nếu chỉ có Bi mà thiếu Trí và Dũng thì con người có thể bị lầm lạc và bi lụy yếu hèn, chẳng giúp gì cho ai. Nếu chỉ có Trí, Huệ mà không có Bi, Dũng thì chỉ là cái trí khô khan, lạnh lùng, ích kỉ, hẹp hòi, độc đoán, mưu chước thủ đoạn để hại người hại vật. Nếu chỉ có Dũng mà không có Từ bi, Trí huệ thì không thể giác ngộ chân lí, chỉ là cái Dũng mù quáng, dễ manh động, bạo tàn, tàn ác và thiếu chính nghĩa. BI TRÍ DŨNG hòa hợp, nhuần nhuyễn sẽ là một đạo lí hợp lí, hợp tình, hợp thời và là một sức mạnh vô song làm động cơ hướng thiện, hướng thượng con người và thăng hoa cho cuộc sống.
Do đó, anh Võ Đình Cường, nguyên Trưởng ban hướng dẫn GĐPT VN trong bài diễn văn khai mạc cuộc triễn lãm nhân Lễ Phật Đản năm 1952 tại trường Bổ Đề- Huế đã xác định đường lối giáo dục GĐPT là hướng theo con đường BI TRÍ DŨNG: “GĐPT chỉ là một tổ chức giáo dục trong Hội Phật học. Nó lấy giáo lí Nhà Phật làm căn bản và giáo lí ấy có đủ ba điểu kiện cần thiết để đào tạo con người theo đúng nghĩa của nó: Phần tình cảm (BI), phần lí trí (TRÍ), phần ý chí (DŨNG), thiếu một trong ba phần ấy, con người chưa phải là con người. Ba phần ấy phải được phát triển đều nhau và cho đến cùng độ để xứng với con người luôn luôn tiến bộ…”
Vậy có thể tóm tắt rằng: Sự kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa 3 yếu tính Bi, Trí, Dũng mà GĐPT chọn lựa làm châm ngôn trên lộ trình tu học, rèn luyện và phụng sự cho Huynh trưởng, Đoàn sinh sống cuộc ĐỜI trong ĐẠO và đem ĐẠO vào ĐỜI một cách trọn vẹn, ý nhĩa theo tinh thần giáo lí Đạo Phật.
-Lấy Từ bi làm động lực.
-Lấy Trí huệ làm đèn hướng dẫn.-
-Lấy dũng lực làm đà tiến thủ.
IV- ÁP DỤNG CHÂM NGÔN BI TRÍ DŨNG:
Lí thuyết dẫn đường cho hành động. Lí thuyết đúng thì hành động mới không sai lầm. Chọn Bi Trí dũng làm châm ngôn, GĐPT đã vận dụng sáng tạo, khéo léo vào tổ chức, san định chương trình tu học và đời sống sinh hoạt của mỗi đoàn sinh.
+Về tổ chức thì Bi Trí Dũng đã hàm chứa trong mục đích, trong huy hiệu Hoa sen và cô đọng nổi bật trong điều luật của GĐPT….
+Để thực hiện mục đích, GĐPT đã thiết lập các hệ thống chương trình tu học phù hợp với tâm sinh lí từng ngành, từnh hạng Đoàn sinh và Huynh trưởng với các bộ môn chính yếu là PHẬT PHÁP, HOẠT ĐỘNG THANH NIÊN, XÃ HỘI VÀ VĂN NGHỆ mà nội dung các bài học, các hoạt động đều tích hợp tinh thần Bi Trí Dũng. Nói cách khác Bi Trí Dũng là tinh thần chủ đạo của chương trình tu học GĐPT.
Đường lối giáo dục GĐPT mang yếu tính: ‘Tri hành hợp nhất”, “Học giáo lí để đạt chân lí giác ngộ và Hành để hoàn thành tự giác, giác tha”
Chương trình tu học được thể hiện trên hai phương diện Lý thuyết và thực hành, sự thực hành không chỉ trong phạm vi sinh hoạt mà cả trong đời sống hàng ngày. Từ em Oanh vũ đến anh chị Huynh trưởng tùy hình thức và mức độ mà được huân tập và phát triển đức tình Từ bi, học tập và khai sáng, trau dồi Trí huệ, rèn luyện lòng quả cảm, nhẫn nhục hi sinh cao thượng để phụng đạo giúp đời.
Có thể nói Bi Trí Dũng là trung tâm của chương trình tu học GĐPT và mọi hoạt động trong sinh hoạt tập thể cũng như trong đời sống cá nhân của Huynh trưởng và đoàn sinh.
KẾT LUẬN:
Mục đích trước hết của Đạo Phật là hoàn thiện con người để cải tạo hoàn cảnh và xây dựng xã hội đầy tình thương, bình đẳng và an lạc, trong đó, ba đức tình Bi, Trí, Dũng là động lực chủ yếu và chất liệu cơ bản cho mọi hành động. Là một tổ chức giáo dục thuộc GHPGVN có mục đích: “Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội” đã rất đúng đắn, sáng tạo và tự hào khi chọn Bi Trí Dũng làm châm ngôn hoạt động.


ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
GĐPT là một tổ chức giáo dục có mục đích hướng thanh thiếu nhi Phật giáo tới lý tưởng giác ngộ đã được tổng hợp qua châm ngôn Bi Trí Dũng. Tuy vậy, GĐPT còn phải cần thêm yếu tố tinh thần khác để hổ trợ việc triển khai thực hiện mục đích châm ngôn có hiệu quả. Một trong các yếu tố tinh thần quan trọng làm nên nền móng cho đường hướng giáo dục tu học GĐPT là ĐIỀU LUẬT. Đó là những quy định mà mọi người trong tổ chức đều phải tôn trọng tuân giữ không vi phạm mới thực sự xứng đáng là người Huynh Trưởng đoàn sinh GĐPT.
I. ĐIỀU LUẬT CỦA GĐPT:
1.Quá trình hình thành cải tiến điều luật GĐPT:
Điều luật GĐPT bắt đầu hình thành từ thời kỳ Gia Đình Phật Hóa Phổ. Điều luật đầu tiên này gồm 10 điều, nội dung nhằm định hướng cho đoàn sinh tu niệm trau dồi rèn luyện đức tính, cư xử đúng phép, có đạo đức và đời sống tốt đẹp lợi ích, tiến bộ. 10 điều như sau:
1. Phật tử học kinh, niệm Phật
2. Phật tử kính mến cha mẹ, thuận thảo với anh chị em
3. Phật tử nhơn từ đối với người và vật
4. Phật tử lựa bạn tốt và mến thuơng bạn
5. Phật tử vui buồn cùng chia, nhắc nhủ nhau tránh dữ làm lành
6. Phật tử giữ gìn lời nói ôn hòa, ngay thật
7. Phật tử thật thà, siêng năng, thứ tự, sạch sẽ
8. Phật tử sống giản dị và điều độ
9. Phật tử bình tĩnh và lạc quan
10. Phật tử làm tròn bổn phận
Đại hội Gia Đình Phật Hóa Phổ toàn quốc năm 1951 đổi thành danh hiệu GĐPT, thiết lập Nội quy trình, trong đó Điều luật đã được tu chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của tổ chức. Lúc này Điều luật gồm 8 điều chia ra hai lứa tuổi:
+ Luật của Thanh Thiếu niên nam nữ : Gồm 5 điều
a. Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện
b. Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống
c. Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật
d. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần từ lời nói đến việc làm
e. Phật tử sống hỷ xã để dũng tiến trên đường đạo
+ Của Đồng niên nam nữ Phật Tử : có 3 điều
a. Em tưởng nhớ Phật
b. Em kính mến cha mẹ, thuận thảo với anh chị em
c. Em thương người và vật
Từ đây trở đi, tuy Nội quy GĐPT đã thêm nhiều lần tu chính, nhưng Điều luật vẫn giữ nguyên như cũ.
2. Điều luật của GĐPT hiện nay:
Hội nghị HT cấp Dũng, cấp Tấn ngày 28, 29/7/2001 tại chùa Từ Đàm-Huế đã một lần nữa tu chính Nội Quy cho phù hợp với tình hình mới của Giáo hội và GĐPT. Lần này, điều luật vẫn được giữ nguyên, chỉ xác định rõ thêm “ Luật của Huynh Trưởng và đoàn sinh Thanh Thiếu niên ”, và ở điều 2 luật của Oanh vũ có thêm chữ VÀ.
A. ĐIỀU LUẬT CỦA HUYNH TRƯỞNG VÀ ĐOÀN SINH THANH THIẾU NIÊN:
1. Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện
2. Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống
3. Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật
4-Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần từ lời nói đến việc làm
5-Phật tử sống hỷ xã để dũng tiến trên đường đạo
B. ĐIỀU LUẬT CỦA ĐỒNG NIÊN (OANH VŨ)
1. Em tưởng nhớ Phật
2. Em kính mến cha m và, thuận thảo với anh chị em
3. Em thương người và vật

II. TÍNH CÁCH CỦA ĐIỀU LUẬT GĐPT:
Suy ngẫm về 8 điều luật chia làm 2 hạng nói trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy lý tưởng Phật hóa con người của GĐPT đã bao trùm trong điều luật.
1-Trước hết Điều luật thể hiện rõ nét tính giáo dục đặc thù của GĐPT căn bản là tự tu tự luyện khởi điểm là niềm tin vào cứu cánh giác ngộ chân lý vừa trên phương diện lý thuyết vừa kết hợp việc thực hành trong tu tập và đời sống ý nghĩ lời nói đến việc làm về vật chất cũng như tinh thần.
2-Khác với luật lệ ngoài đời có nhiều ràng buộc bởi uy quyền, quyền lợi, sự thưởng phạt, dư luận xã hội, có khi rất khắt khe. Điều luật GĐPT thể hiện tinh thần tự nguyện, tự giác hoàn toàn tích cực và phổ quát. Trong GĐPT bất cứ ai khi đã tin vào chánh pháp, chấp nhận mục đích lý tưởng GĐPT, thì từ em oanh vũ 7 – 8 tuổi đến người Huynh Trưởng lão niên sáu bảy mươi, nam cũng như nữ bất kể giàu nghèo địa vị khác nhau, không do một áp lực nào, không bởi sự thưởng phạt gì, đều tuân theo điều luật và vui sướng tự hào khi thực hiện một cách đầy đủ triệt đẻ điều luật mà mình thường tâm niệm khắc ghi và trân trọng.
3-Điều luật GĐPT đã bao hàm tất cả những yếu tính biểu trưng cho đạo, cho tinh thần căn bản của người Phật tử. Đó là đức tin chánh tín vào Tam Bảo (Quy y) là thọ trì năm giới cấm (giữ giới đã phát nguyện) không giết hại (tôn trọng sự sống – thương người và vật) không trộm cắp, không tà hạnh (trong sạch từ thể chất đến tinh thần..) không nói dối (tôn trọng sự thật) lại gồm đủ 5 hạnh của người Phật tử: Tinh tấn, Hỷ xả (sống hỷ xả để dũng tiến …) Thanh Tịnh (trong sạch từ thể chất…) Trí huệ (trau dồi trí huệ), Từ bi (mở rộng lòng thương…) và tất nhiên toàn bộ điều luật đã toát lên một cách sống động châm ngôn Bi Trí Dũng của GĐPT.
4- Về mặt phương pháp giáo dục : thì sự phân cấp và cấu tạo điều luật rõ ràng là rất phù hợp với tâm sinh lý của đoàn sinh.
5-Về hình thức: Điều luật GĐPT là một bản văn ngắn gọn nhưng nội dung súc tích cô đọng lại có nhạc tính khiến mọi người có thể đọc nhịp nhàng có âm điệu và dễ dàng ghi nhớ.
III. GIẢI THÍCH NỘI DUNG CÁC ĐIỀU LUẬT:
(Phần này trích giải theo Phật Pháp ngành Thiếu Hòa thượng THích Minh Châu)
1. Phật tử quy y Phật Pháp Tăng: Là tôn Phật, Pháp, Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, ý chỉ Phật, Pháp, Tăng, lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tăng không theo Thượng đế, tà sư không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.
Giữ giới đã phát nguyện: Giới là những giới luật của đức Phật chế như 5 giới của người tại gia. Trong năm giới cấm tự nguyện tùy sức đã thọ lãnh giới nào, thời triệt giới ấy, không lúc nào trái phạm. Nếu lúc nào trái phạm thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.
2. Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống: Phật tử thực hạnh Từ bi mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả sinh vật. Phật tử không thương riêng thân mình, riêng gia đình của mình, mà phải mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi gia đình. Phật tử không thương riêng loài người mà còn thương yêu các loài sinh vật nữa. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không giết hại mạng sống của bất cứ sinh vật nào, mà còn phải bảo tồn, tôn trọng tất cả sự sống của những sinh vật nhỏ nhiệm. Phật tử giữ giới không sát hại và ăn chay cũng là giữ điều luật này.
3. Phật tử trau đồi trí huệ tôn trọng sự thật: Phật tử thực hành hạnh Trí huệ bằng cách phát chiếu trí huệ và tôn trọng sự thật. Phật tử dùng trí huệ để tìm hiểu, học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Đối với các học thuyết Phật tử lấy trí phán đoán vô tư để tìm hiểu, nếu phải thì công nhận, nếu trái thì không tin theo. Đối với Phật Pháp, Phật tử hết sức tìm hiểu chơn nghĩa của Phật, dùng lý trí phân tích thiệt nghiệm tìm hiểu để thực hành, để sống như lời Phật dạy, vì Phật tử nhận rõ rằng chỉ có sự thiệt hành mới phát sinh trí tuệ con người. Phật tử tôn trọng sự thật nghĩa là biết phụng sự lẽ phải và sự thật. Phật tử sẽ không nói láo vì nói láo là nói trái với sự thật. Phật tử không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hay để bênh vực lòng tự ái của mình.
4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm: Phật tử thực hành Thanh tịnh, hạnh Hoa Sen trong trắng, giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm cho tinh sạch trong sáng. Phật tử giữ y phục, thân thể, sách vở, nhà cửa sạch sẽ. Phật tử chỉ nói lời chân thực, như thật, nhu hòa, Phật tử không nghĩ làm các điều ác, chỉ làm những điều thiện có lợi mình và lợi người.
5. Phật tử sống hỉ xả để dũng tiến trên đường Đạo: Phật tử thực hành hạnh hỉ xả và Tinh tấn. Phật tử sống hỉ xả là luôn luôn hoan hỷ vui vẻ, dầu gặp những nghịch cảnh trở lực. Phật tử vui vẻ hy sinh để giúp đỡ cứu khổ cho mọi người mọi loài không để tâm ganh ghét thù hằn một ai. Phật tử tinh tấn trên đường Đạo không dừng nghỉ, không thối thoát. Phàm làm việc gì thì làm kỳ cùng cho đến khi thành tựu mới thôi. Dầu gặp thất bại, Phật tử không có quyền thối thoát, đình chỉ, rút lui. Dầu gặp nghịch cảnh trở lực Phật tử phải luôn luôn gắng sức. Khi nào mục đích chưa thành tựu mỹ mãn người Phật tử vẫn phải hoan hỉ xả bỏ tất cả để dũng tiến trên đường Đạo sáng.
Riêng với Ngành Oanh, các em tuổi còn nhỏ, trí huệ còn non, tâm hồn còn ngây thơ trong trắng nên cần gieo mầm niềm tin đạo Pháp, đời sống tâm linh và huân tập những đức tính tốt căn bản.
Những điều mà các em cần huân tập lúc này không phải là những gì cao siêu, xa vời rộng lớn mà là những hành động thực tế đơn giản mà các em có thể thực hiện hàng ngày, hàng giờ đối tượng của các em thì rất gần gũi thân cận nhưng gắn bó với các em suốt đời. Đó là đức Phật, biểu tượng cho tình thương bao la và trí tuệ vô biên, là cha mẹ với tình thương và công ơn vô hạn, là những người thân thiết xung quanh cũng như các thú vật mà các em tiếp xúc hàng ngày. Trên cơ sở ấy niềm tin đạo Pháp sẽ tăng trưởng vững chắc, tình thương dần nẩy nở, đạo hạnh thêm trong sáng, đời sống nội tâm ngày càng phát huy phong phú.
KẾT LUẬN :
Trong đạo, giới luật là mạng mạch của Phật Pháp, là sinh mệnh của Tăng già, giới luật còn thì Phật Pháp tồn tại. Tăng già không nghiêm giữ giới luật thì đạo Pháp sẽ suy tàn.
Cũng như vậy Điều luật là tinh hoa cốt lõi, là giá trị tinh thần của GĐPT.
GĐPT được vinh danh khi mọi đoàn viên đều tôn trọng và tuân hành điều luật. Ngược lại điều luật bị xem thường xâm hại, Huynh trưởng đoàn sinh bê tha phóng túng thì bản thân mỗi người đoàn viên không còn danh sự và tổ chức bị tổn thương sớm muộn phải tan rã.
Vì vậy, muốn cho GĐPT được tươi sáng vẻ vang trường tồn, tất cả Huynh trưởng đoàn sinh hãy khắc cốt ghi tâm triệt để tôn trọng và thiệt hành đúng theo điều luật cao quý của GĐPT chúng ta để xứng đáng là người Huynh trưởng đoàn sinh GĐPT và cũng là con người có giá trị trong xã hội vậy.

NĂM HẠNH
A.- DẪN NHẬP
Điều kiện tiên quyết và căn bản nhất của người Phật tử là Qui Y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm. Qui Y Tam bảo là bước khởi điểm chuyển hóa cuộc đời. Tuân giữ năm giới để nhăn ngừa tội lỗi, là con đường xây dựng nhân cách và căn bản giác ngộ giải thoát .
Ngoài năm giới cấm, người Phật tử còn phải thực hành năm hạnh nhằm trau dồi nhân cách trong sáng, phát huy tinh thần cao thượng và tăng cường hạnh nguyện rộng lớn lợi lạc quần sanh, sống đúng chân tinh thần người Phật tử.
Phân biệt giới và hạnh: Giới là phòng bị, ngăn ngừa, răn cấm. Giới là những điều luật Phật chế để đối trị, ngăn ngừa những ý nghĩ, lời nói, việc làm bất chính tội ác để con người được trong sạch, bớt tội lỗi.
Hạnh là đức tính tốt đẹp, nết người cao thượng, nguyện lực rộng lớn để trang sức thêm nhân cách, đức độ, lối sống, trau dồi thêm tinh thần trong sáng, thanh cao đem lại lợi ích cho người và vật.
Về mặt tương quan nhân quả, Giới và hạnh có liên quan mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ: Giữ giới không sát sanh là thực hành hạnh Từ bi, giữ giới không nói dối là thực hành hạnh Trí tuệ. . . .
B.- NỘi DUNG.
1.- Ý nghĩa của năm hạnh :
Năm hạnh là năm đức tính cao đẹp, trong sáng, thể hiện phước trí vẹn toàn của Chư Phật, Bồ tát đó Tinh tấ, Hỉ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.
b.- Tinh tấn : Tinh tấn là tinh cần và vững tiến. Luôn luôn siêng năng và có chí vượt khó. Trên đường học đạo dù gặp bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cực nhọc cũng bền chí tiến bước. Người có hạnh "Tinh tấn" bao giờ cũng mong cầu học hỏi giáo lý, mong cầu tu tập giải thoát, không bao giờ lui bước khi gặp khó khăn, khi đối đầu với nghịch cảnh.
b.- Hỉ xả :: Hỉ là vui mừng, người có hạnh hỉ tính tình vui vẻ. Xả là buông bỏ không chấp, không tham đắm. Người có hạnh "Xả" thì tâm bao giờ cũng bình thản tươi vui, tính tính trở nên vui vẻ. Hỉ xả là vui vẻ, nới bỏ sự chấp trước, thản nhiên tự tại trước cảnh trái, ý nghịch lòng, sốt sắn hi sinh công sức, tiền của, tính mạng cho lí tưởng, độ người, cứu vật mà không hề so đo, tình toán.
c.- Thanh tịnh : Thanh là trong sạch, tịnh là yên lặng, Thanh tịnh là trong lặng. Thanh tịnh thường chỉ về tâm hồn.Một tâm hồn trong sạch tức là không có một ý nghĩ hay hành động xấu xa, độc ác.
Thanh tịnh còn có nghĩa sâu hơn, tâm thanh tịnh tức là tâm trong lắng, không vấy lên một tạp niệm nào. Người có hạnh "Thanh tịnh", không những là người không bao giờ có những ý nghĩ xấu ác, những mưu đồ đen tối mà còn là người luôn luôn tìm cách giữ tâm mình trong lắng, không vọng động.
d.- Trí Tuệ : Trí là tâm trí, là sự hiểu biết, Huệ là sáng suốt. Trí huệ là sự hiểu biết sáng suốt, tức là hiểu biết đúng đắn, nhận rõ được sự thật. Người có hạnh "Trí tuệ" bao giờ cũng muốn tìm hiểu đúng sự thật, phân biệt sự lí rõ ràng minh bạch.
e.- Từ bi : Đúng ra là gồm 2 : Từ là đem vui, Bi là cứu khổ.
Bằng mọi cách đem lại nguồn vui cho kẻ khác gọi là "Từ", bằng mọi cách làm vơi đi nỗi khổ cho người khác gọi là "Bi". Không những cho người mà còn cho cả loài vật, đem lại nguồn vui thì cũng vơi đi nỗi khổ, vơi bớt nỗi khổ đau tức là giảm được nỗi buồn. Người có hạnh Từ Bi, cõi lòng luôn rộng mở, mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩa đều đem tới vui tươi cho kẻ khác, làm vơi nỗi khổ cho kẻ khác.
2.- Tương quan của Năm Hạnh :
Thật ra năm hạnh đều có tương quan với nhau. Người có hạnh Từ Bi làm gì cũng cân nhắc xem việc mình sắp làm có tác hại gì đến ai không ? Nếu biết dựa vào giáo pháp để cân nhắc thì chính sự cân nhắc này đã thể hiện đước tính trí huệ.(phân tích thật kỹ càng, tìm hiểu cho chu đáo). Và ngược lại, người có trí tuệ (Phật Trí) thì hành động phải phù hợp với giáo pháp bao giờ cũng lợi mình, lợi người vậy hành động ấy mang tinh thần Từ bi.
Cũng vậy, người có hạnh Hỷ xả mới dễ dàng thực hiện sự Bố thí, tức là có lòng Từ bi, có "Hỷ xả" dễ dàng tăng trưởng hạnh "Từ bi", và có Từ bi dễ dàng xây dựng hạnh "Hỷ xả".
Những người có tâm hồn trong lắng không vọng động thì trí tuệ dễ phát chiếu. Vậy hạnh Thanh tịnh hổ trợ cho hạnh Trí tuệ và ngược lại người có Trí tuệ mới thấy được "Thanh tịnh" là cần thiết trong cuộc sống. Khi đã thấy được như vậy thì không có gì có thể làm cản trở bước đường tu học. Vì có trí tuệ ta đã nhìn rõ "Chỉ có giáo pháp là ngọn đèn soi sáng trên con đường giải thoát" mà chúng sanh thì đang lặn hụp trong bể khổ trầm luân, cho nên chúng ta thiết tha mong cầu giải thoát. Thế thì có sự nguy nan nào có thể làm chùng bước ta được trên con đường học đạo, ấy chính là làm tăng trưởng hạnh Tinh tấn vậy, và nếu trau dồi được hạnh Tinh tấn, thì luôn thức đẩy con người tăng tiến thực hành bốn hạnh kia.
II.-TRAU DỒI NĂM HẠNH :
Đã là "Hạnh" tức là phải thuộc trong con người chúng ta, trong tâm chúng ta, trongthân chúng ta chứ không còn là một từ ngữ trống rỗng bên ngoài và cũng không còn chỉ là một thái độ. Chẳng hạn nói hạnh "Từ bi" không phải chỉ là một thái độ "Từ bi" nữa. Đó là "Hạnh". Vậy nó có sẵn trong tâm, trong thân nên mỗi lời nói, một hành động, một ánh mắt, một nụ cười đều có chất liệu Từ bi.
Người Huynh trưởng chúng ta không còn nói là "thực hành" năm hạnh nữa.
Đối với các em, 5 hạnh này có ở các đức Phật, các vị Bồ tát, các em phải học và tập tức là hiểu và thực hành trong đời sống các em.Là Huynh trưởng chúng ta phải đưa năm hạnh này vào trong tâm, trong thân của chúng ta.
Biết rằng : Hạnh thì còn có căn duyên nhưng nếu không biết trau dồi thì cũng khó mà tồn tại.
1.- Trau dồi hạnh từ bi :
Tùy căn cơ của mỗi người. Có người khi thấy một bạn đau buồn khổ sở, không có một lời để vơi bớt nỗi khổ của bạn mà ngược lại, nói ra lời nào thì chỉ gợi thêm sự đau khổ của bạn thôi, nhưng người đó lại có thể bỏ tiền để hổ trợ cho công cuộc in ấn kinh sách, thế cũng là có tâm từ, cũng là Pháp thí ; một quyển sách, giáo lý cũng là một vị thầy đấy. Lại có người không thể nhịn được sự vu khống nhục mạ của kẻ khác mà phải nổi cơn thịnh nộ mắng cải, đánh đập nhưng họ lại có thể bỏ tiền gạo giúp cho những người nghèo đói. Vậy tùy căn cơ mà làm phát triển tâm Từ của mình. Ta phải biết quán - Người vu khống, chưỡi mắng ta, ta không nhịn được, nhưng ta thử đặt mình vào địa vị của người ấy, vì phải sợ hãi một sự kiện gì đo nên vu không cho ta, chưỡi mắng ta, ta im lặng để họ có thể đổ vào ta mà không còn sợ hải thì đó là tâm của người Từ bi. Hoặc ta giả sử người đó là cha mẹ ta, ta có chưỡi rủa đánh đập lại không? Vậy xem người đó là cha, mẹ ta đi.
Ăn một bát cơm ta nghĩ đến những mồ hôi nước mắt của người nông phu đổ xuống cho có hạt gạo để nuôi sống ta. . .
Trong từng hơi thở ta nhắc nhủ mình : "Nhớ tìm cách cho vui - Nhớ làm vơi nổi khổ" (Từ bi).
2.- Trau dồi hạnh Hỉ xả :
Ta phải quán vô thường có sự việc gì, có hiện tượng gì trong vũ trụ này mà thường còn mãi mãi đâu ? Một luồng gió độc, một tai nạn đột xuất, ta có níu kéo được mạng sống không ? Tài sản, thân mạng có giữ mãi được không ? Thế thì tiếc gì mà không buông bỏ, tiếc gì mà không vui tươi trước mọi biến cố.
3.- Trau dồi hạnh Tinh tấn :
Biết ta không chủ động được mạng sống của mình thì ta phải biết dùng thân xác này làm phương tiện tu học, giải thoát. Làm được kiếp người là quý hóa lắm, giả như mang thân kiếp súc sanh, ngạ quỷ thì làm sao biết được Chánh pháp để tu tập giải thoát (kể cả thân kiếp chư Thiên, biết đâu chỉ lo vui hưởng dục lạc mà chẳng thấy được con đường giải thoát). Mà kiếp người này thì phải tranh thủ từng phút, từng giây, từng sát na, vì ai biết được cái giờ phút "không còn hơi thở". Vậy mỗi phút tim còn đập, phổi còn thở là mỗi phút tinh tấn học đạo, hành đạo.

4.- Trau dồi Trí tuệ :
Ta phải luôn luôn nghiên cứu, học hỏi giáo lý, kinh điển ; tìm một minh sư hướng dẫn tu tập. Tìm bạn "Trí" để trau dồi mạn đàm, thảo luận. Đừng phí thì giờ trong các chuyện phiếm vô bổ hoặc bỏ phí thì giờ trong các buổi xem phim, Vidéo, nhữn g phim thiếu tính cách giáo dục.
Việc tĩnh tâm rất cần thiết cho sự phát huy trí tuệ.
5.- Trau dồi hạnh Thanh tịnh :
Biết tĩnh tâm, biết cách gạn lọc những ý nghĩa không trong sạch, biết đình chỉ những vọng niệm. Phương pháp đơn giản nhất là theo dõi hơi thở. Hàng ngày dành một số thời gian (15 phút - it nhất) tập thiền định - hoặc trong khi đi đứng. . .cũng có thể theo dõi hơi thở :
- Hơi thở 1: Thở ra "Nhớ tìm cách cho vui", Thở vào "Nhớ tìm cách cho vui" - Hơi thở 2 : Thở ra "Nhớ làm vơi nỗi khổ", Thở vào "Nhớ làm vơi nỗi khổ". - Hơi thở 3 : Thở ra "Nhớ giữ lòng hoan hỷ", Thở vào "Nhớ giữ lòng hoan hỷ" - Hơi thở 4 : Thở ra "Nhớ tập hạnh xả buông", Thở vào "Nhớ tập hạnh xả buông"
Cứ tập mãi như thế.

III. Vị trí Năm cánh trên của Hoa sen tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử, từ ngoài nhìn vào:
1.Cánh giữa: Tượng trưng cho hạnh Tinh Tấn là đức Phật Thích Ca, người đã rời bỏ hạnh phúc gia đình, ngôi báu, danh lợi, để dấn thân trên đường Đạo, tu khổ hạnh trong sáu năm, ngồi thuyền định 49 ngày để đạt đến giác ngộ, rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa chúng sanh hơn bốn mươi chín năm. Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh tinh tấn là luôn luôn tinh tấn thực hành các hạnh Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi. Trái với hạnh Tinh Tấn là lười biếng trên đường Đạo, trong bổn phận của mình.
2.Bên trái cánh giữa: Hạnh Hỷ Xả Người sống theo hạnh Hỷ Xả luôn có gương mặt tươi trẻ, cặp mắt trong sáng, nụ cười hiền hòa, và trong thân tỏa ra sức mạnh khiến mọi người hoan hỷ hy sinh theo mình. Tượng trưng cho hạnh Hỷ Xả là đức Phật Di Lặc, một đức Phật có một lòng thương rộng lớn cao cả, một gương mặt luôn luôn tươi cười.
3.Bên phải cánh giữa: Hạnh Thanh Tịnh, Tượng trưng hạnh Thanh Tịnh là đức Phật A Di Đà, một đức Phật có hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, hai quả đức do nhơn hạnh hoàn toàn thanh tịnh; và cảnh giới của đức Phật A Di Đà hóa độ chúng sanh là cảnh Tịnh Độ, một cõi hoàn toàn trong sạch đẹp đẽ. Một người sống theo hạnh Thanh Tịnh là thân thể áo quần luôn luôn sạch sẽ, tề chỉnh, lời nói, ý nghĩ, việc làm luôn luôn trong sạch, và sống cuộc đời giản dị thanh bạch.
4.Bên trái của Hỉ Xả: hạnh Trí Huệ, Tượng trưng cho hạnh Trí Huệ là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Bồ Tát có trí huệ bậc nhất, tiêu biểu cho sự hiểu biết, và thường thay thế đức Phật Thích Ca khai sáng trí huệ cho mọi loài. Một người sống theo hạnh Trí Huệ là phải học hiểu những điều phải học đúng theo chương trình, phải học hiểu Phật Pháp đúng theo thứ bậc của mình.
5.Bên phải của Thanh Tịnh: hạnh Từ Bi, Tượng trưng cho hạnh Từ Bi là đức Quán Thế Âm Bồ Tát, một vị Bồ Tát hiện thân cứu khổ cứu nạn cho mọi loài, luôn luôn thương tưởng, cứu giúp cho tất cả chúng sanh.Một người sống theo hạnh Từ Bi là luôn luôn cứu giúp mọi loài, mọi người sống hạnh phúc.
KẾT LUẬN :
Đã là hạnh của người Phật tử thì Huynh trưởng chúng ta phải luôn luôn trau dồi. Khi đã "Hạnh" thì mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi cử chỉ đều đượm tính chất năm hạnh một cách tự nhiên. Chưa đòi hỏi một mức độ cao, nhưng phải tùy căn cơ mà rèn luyện để được phát triển dần đến chân thiện mỹ./-
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Re: Bậc Kiên   Wed 20 Jan 2010, 02:14

HẠNH HIẾU CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG
I-HẠNH HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT
Đức Phật đã dạy: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh; nói cách khác, tất cả chúng sanh ai cũng có tâm Phật bẩm sinh như nhau. Mỗi người tùy theo hành động sáng suốt hay mê lầm của thân, miệng, ý mà làm cho tâm Phật hiển lộ hay lu mờ đi. Ví dụ khi chúng ta an lạc, hoan hỉ cùng với niềm vui và hạnh phúc của mọi người, chia xẻ nỗi buồn với họ, đó là lúc ta sáng suốt, không để mờ tâm Phật; trái lại khi ta giận dữ, ngã mạn, cuồng tín v..v.. là lúc ta đã chuyển cái tâm Phật nơi ta thành một thứ lửa địa ngục rồi. Một trong những loại tư tưởng trong sáng, mát mẻ, nuôi dưỡng tâm Phật của chúng ta là lòng hiếu thảo hay hiếu đạo.
Lòng hiếu thảo là lòng biết ơn đối với cha mẹ mình, mong muốn được đền đáp công ơn ấy. Về điểm này thì loài người hơn hẳn loài vật, vì vậy lòng hiếu thảo là một đặc trưng để phân biệt loài người với súc sinh. Loài vật cũng biết thương con nhưng không biết thương cha mẹ. Có một giống chim còn ăn thịt cha mẹ khi chúng đã lớn khôn, nhưng chúng ta không thể trách chúng là bất hiếu vì chúng nó là súc sinh, chỉ biết sống theo bản năng, không thể hiểu được hiếu đạo và luân lý của loài người. Đức Phật đã ân cần dạy chúng ta rằng: Gặp thời không có Phật, thờ phụng cha mẹ chính là thờ phụng Phật. Do vậy, kinh dạy rằng: một trong những nỗi bất hạnh lớn nhất của con người là không được nghe đến những chữ Phật và Cha Mẹ. Làm tròn chữ Hiếu là coi như đã đi được nửa con đường tu đạo rồi.
Ngày xưa quan niệm về chữ Hiếu của ông cha ta còn hẹp hòi, đó là bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (có 3 điều bất hiếu mà không có con trai nối dõi là tội lớn nhất). Người vợ không sinh con trai được coi như có tội với gia đình chồng, mang tội đại bất hiếu, từ đó sinh ra tục lệ đa thê (nhiều vợ, để kiếm con trai; nếu người vợ không có con trai người chồng có thể lấy vợ khác; có khi có 2, 3 người vợ mà cũng chưa sinh ra con trai !); tục lệ này chúng ta đã biết là đem lại khổ đau cho nhiều người - đặc biệt là cho người đàn bà.
Chữ Hiếu trong đạo Phật đã được nâng cao thành Hiếu đạo. Người Phật tử vừa là người con hiếu thì khi cha mẹ còn sống, phụng dưỡng cha mẹ bằng tình thương, sự chăm sóc và tiền bạc hợp pháp do mồ hôi nước mắt của mình làm ra. Người con hiếu cố gắng làm vui lòng cha mẹ bằng sự dịu dàng, chiều chuộng của mình nhưng quyết không chiều theo những sở thích xấu xa tai hại nếu chẳng may cha mẹ vướng phải (như cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập, trộm cắp v.v... ); trái lại còn khuyên cha mẹ quy y Tam Bảo, làm lành tránh ác. Người con hiếu luôn làm tròn bổn phận của mình, không làm điều gì có hại cho thanh danh gia đình mình, mang tiếng xấu cho cha mẹ. Khi cha mẹ chết, lo làm các việc phước thiện như phóng sanh, bố thí, ấn tống kinh sách để phổ biến Phật Pháp để cầu nguyện và hồi hướng công đức đến cha mẹ mình.
Từ lòng thương cha mẹ mình, người Phật tử trải lòng thương ấy đến cha mẹ của tất cả mọi người mọi loài, nghĩa là đến tất cả chúng sanh. Hơn ai hết, người Phật tử hiểu được rằng trong dòng luân hồi vô thỉ vô chung này, ai cũng đã từng làm cha mẹ mình, con cái mình. Do vậy sát sanh là hại mạng sống của cha mẹ mình ở nhiều đời nhiều kiếp trước vậy. Không những thế, người Phật tử không theo thường tình thế gian báo thù cho cha mẹ bằng cách giết kẻ thù vì suy cho cùng làm như vậy là giết cha mẹ mình ở kiếp trước để báo thù cho cha mẹ của kiếp này. Cứ như thế, oan oan tương báo cho đến bao giờ mới dứt! Kinh Phạm Võng dạy: Hiếu nghĩa là giữ giới, là ngăn các điều ác. Thật vậy, chỉ cần giữ giới và ngăn các điều ác là chúng ta đã thực hành hiếu đạo rồi, vì đó là đầu mối của các hạnh lành và cũng là căn bản của giác ngộ và giải thoát.
Hiếu đạo theo Phật giáo hướng dẫn chúng ta đi trên con đường rộng lớn thênh thang của tình thương Vô Ngã, giúp chúng ta vượt khỏi biên giới hẹp hòi của ngã chấp hạn cuộc, nguyên nhân gây bao đau khổ cho người và cho chính mình. Đó chính là sự mầu nhiệm của Vu Lan Bồn. Nhờ năng lực chú nguyện của 10 phương Tăng sau 3 tháng an cư thanh tịnh mà mẹ của Ngài Mục Kiền Liên cùng tất cả tội nhân khác của địa ngục được giải thoát. Nhờ lòng thương mẹ, Ngài Mục Kiền Liên đã trãi lòng thương đến mọi loài chúng sanh, phát lời nguyện rộng lớn: Địa ngục chưa trống thì tôi thề không thành Phật; cho đến bao giờ mà tất cả chúng sanh đều được giải thoát thì tôi mới chứng Đạo Bồ Đề.
II- ĐỨC PHẬT DẠY CÁCH BÁO HIẾU
Đức Phật đề cao hạnh hiếu lên hàng đầu, là đức tình căn cốt của người Phật tử. Có thể nói không sai rằng trong các vị giáo chủ các tôn giáo thì Đức Thích ca là người đề cao hạnh hiếu nhất. Đức Phật thường ân cần tha thiết khuyên dạy đệ tử tri ân và báo ân nhất là đối với công ơn cao dày của cha mẹ, “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là thanh văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ, vì tâm hiếu là tâm Phật”.
Thật là cao thượng và cảm động khi Đức Phật khuyên Phật tử kính thờ cha mẹ như thờ chính ngài: “Nếu ở đời không có Phật, thì hãy khéo thờ cha mẹ, khéo phụng thờ cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại tập) và “Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế”
Bản thân Đức Phật ngài đã thực hành Đức hiếu một cách tột cùng cao thượng, triệt để không những trong đời Phật tại thế mà còn trong nhiều đời ở quá khứ. (Chim oanh vũ, Thái tử Tu Xả Đề, Hoàng tử nhẫn nhục. . .)
Sau khi thành đạo, Đức Phật đã về thăm quê hương, phụ hoàng, hoàng tộc và độ cho nhiều vương tử xuất gia, trong đó có con ruột, em ruột của ngài. Trên đường du hóa, nghe tin phụ hoàng lâm bệnh, ngài vội vàng cùng đệ tử trở về hầu hạ chăm sóc, khuyến hóa. Khi phụ vương tịch diệt, chính Phật đã tẩm liệm, hầu bên kim quan và nâng thỉnh, tống tiễn kim quan vua cha đến đài hỏa táng. Kinh Địa tạng kể rằng: Đức Phật cũng đã nhập đại định lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp độ thoát cho Mẫu hậu Ma Da để báo ơn đức sanh thành.
Đức Phật dạy cách báo hiếu theo chánh kiến, chánh tư duy, không những bằng vật chất mà cả về tinh thần, không những tại thế gian mà còn xuất thế gian, không những cha mẹ còn sống mà sau khi chết, không những đời này mà còn nhiều đời trước và đời sau, đặc biệt là khuyến hóa cha mẹ hướng về chánh đạo, tăng trưởng thiện niệm mới là cách báo hiếu sâu sa đầy đủ, trọn vẹn rốt ráo nhất.
Đức Phật còn nâng cao đạo hiếu lên một phần cao nữa là lòng biết ơn và chỉ ra bốn ân lớn cần phải báo đáp gọi là TỨ TRỌNG ÂN: Ân Cha mẹ, Ân Thầy bạn, Ân Quốc gia xã hội và ân Tam bảo. Hiếu thảo của người Phật tử bao gồm cả đạo hiếu nhân, hiếu nghĩa, hiếu sinh, bởi Phật dạy người tu theo Phật phải nhớ ơn tất cả mọi loài, mọi người, mọi chúng sanh vì tất cả đều có liên quan máu thịt với mình.
Tấm gương hiếu hạnh sáng ngời của Đức Phật và những lời giáo hiếu vô hạn của ngài làm cho kháp cả trời người đều xưng tán Đức Phật là BẬC ĐẠI HIẾU và Đạo Phật còn mệnh danh là ĐẠO HIẾU.
III-HẠNH HIẾU CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG GĐPT
Đối với người Huynh trưởng GĐPT, với vai trò đặc biệt của mình trong Đạo Pháp thì Hạnh hiếu là yếu tính.
1- Hạnh hiếu là Đạo đức chuẩn mực nhất,là yếu tính của người Huynh trưởng
Người Huynh trưởng là một Phật tử, mà là Phật tử thì phải theo lời Phật dạy, nêu cao lòng biết ơn, đền ơn, tăng trưởng hạnh hiếu.
Người Huynh trưởng còn có vị trí và vai trò đặc thù, là người truyền dạy các em về Phật pháp, giáo dục các em về Đạo đức, về truyền thống văn hóa tinh thần dân tộc, trong đó hạnh hiếu là cội nguồn của mọi tình cảm và lòng yêu thương, cho nên người Huynh trưởng phải là tấm gương sáng về hạnh hiếu cho các em noi theo. Điều luật thứ hai của Ngành Oanh vũ : “Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em” sẽ nhắc nhở Huynh trưởng chúng ta luôn nhận thức điều đó.
Những gì Ngưởi Huynh trưởng thể hiện lòng hiếu hạnh trong việc làm, trong đời sống gia đình, họ hàng, xã hội chính là bài giảng sống động đối với các em và còn làm cho phụ huynh và mọi người xung quanh kính phục, tin cậy và sẵn sàng gửi gắm con em cho GĐPT.
2-Người Huynh trưởng thực hành hạnh hiếu:
-Về mặt cá nhân:
+Học tập để hiểu thấu đáo ý nghĩa hạnh hiếu theo tinh thần Đạo Phật, thâm nhập sâu sắc lời Phật dạy về lòng biết ơn và cách báo ơn, đặc biệt là ơn cha mẹ.
+Thể hiện hạnh hiếu bằng hành động cụ thể là phụng dưỡng, chăm sóc, tôn kính, hiển danh, khuyến hóa cha mẹ lúc còn sống và báo hiếu đúng chánh pháp lúc cha mẹ qua đời, tang lễ cũng như những ngày kị giỗ.
+Trên phương tiện vai trò nhiệm vụ, người Huynh trưởng phải thường xuyên tùy duyên giáo dục, khích lệ, khuyến hóa các em huân tập. tăng trưởng lòng hiếu hạnh và thực hành hạnh hiếu trong cuộc sống hàng ngày ở gia đình, nhất là đối với các em Oanh vũ.
+Ngày lễ Vu lan hàng năm là dịp để GĐPT tổ chức các hoạt động thể hiện lòng nhớ ơn, báo ơn cha mẹ như Lễ cài bông hồng, văn nghệ báo hiếu, cúng dường chư tăng tự tứ, thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ, phát quà trẻ mổ côi, quyên góp giúp đỡ đồng báo khó khăn… Đó là những hoạt động có tính giáo dục cao.
+Tổ chức hoặc tham gia các ngày húy kị các bậc tôn túc công đức giáo hội, lệ hiệp kị Huynh trưởng đoàn sinh GĐPT quá cố. Những hoạt động này nói lên tinh thần BÁO ÂN của tổ chức GĐPT.
KẾT LUẬN:
GĐPT là một tổ chức giáo dục thanh thiếu nhi của giáo hội, trên con đường xây dựng trưởng dưỡng đạo hạnh cho đoàn sinh đã thắp sáng lên tinh thần báo ân và truyền thống hiếu hạnh. Đó là một nét đặc thù và là điểm son đáng tự hào và trân trọng mà mỗi Huynh trưởng cần phát huy và thực hành đứng đắn với tất cả tinh thần của người con hiếu hạnh, một công dân trung nghĩa, một Huynh trưởng GĐPT Việt Nam.


TAM QUY – NGŨ GIỚI
I. DẪN NHẬP:
Ðức Phật đã từng nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”; bởi lẽ đó chúng ta phải cố gắng không ngừng để làm Phật tánh của mình ngày một hiện rõ ra bằng những việc làm, suy nghĩ thiện lành. Một trong những cách được xem là căn bản và bước khởi đầu đó là Tam Quy (Quy Y Tam Bảo) và Ngũ Giới (Giữ 5 giới luật).
II. TAM QUY:
1/Giải nghĩa:
-Quy là trở về, Y là nương tựa.
-Tam Bảo là 3 báu vật mà thế gian không thể sánh bằng: Phật – Pháp – Tăng.
Tam Quy (Quy Y Tam Bảo) là trở về nương tựa với Phật – Pháp – Tăng sau bao năm tháng bị lạc đường hoặc vì vô minh che lấp mà trôi nổi trong sanh tử luân hồi.
2/Quy Y Tam Bảo là thế nào?
-Quy Y Phật: Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, dứt hết tham sân si nên an lạc gọi là “Tự Giác”. Ngài đem sự giác ngộ ấy truyền đạt lại cho mọi người để cùng thực hành và được an lạc như Ngài nên gọi là “Giác Tha”. Cả hai công hạnh ấy Ngài đã thực hiện một cách trọn vẹn gọi là “Giác Hạnh viên mãn”. Như vậy chỉ có Phật mới dẫn dắt chúng ta ra khỏi đau khổ, phiền não nên phải Quy Y Phật là vậy.
-Quy Y Pháp: Chỉ có những phương pháp của Phật (kinh, luật, luận) là đầy đủ công năng để đưa chúng ta qua khỏi bể khổ để đến bờ giải thoát nên phải Quy Y Pháp là vậy.
-Quy Y Tăng: Là những người cách ly gia đình, sống đúng theo lời Phật dạy, giữ gìn giới luật làm gương sáng cho mọi người và dẫn dắt chúng sanh trên đường Ðạo nên phải Quy Y Tăng là vậy.
3/Các thứ bậc Tam Bảo:
a/Ðồng thể Tam Bảo:
-Chư Phật và chúng sanh đều có Phật tánh giống nhau nên gọi là “Ðồng thể Phật Bảo”.
-Chư Phật và chúng sanh cùng có pháp tánh từ bi , bình đẳng nên gọi là “Ðồng thể Pháp Bảo”.
-Chư Phật và chúng sanh cùng có thể tánh thanh tịnh nên gọi là “Ðồng thể Tăng Bảo”.
b/Xuất thế gian Tam Bảo:
-Ðức Phật Thích Ca và các vị Phật khác trong mười phương đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc sanh tử của thế gian nên gọi là “Xuất thế gian Phật Bảo”.
-Chánh pháp của chư Phật có công năng làm cho chúng sanh giải thoát khỏi luân hồi của thế gian nên gọi là “Xuất thế gian Pháp Bảo”.
-Các vị Thánh tăng đã thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian như ngài Quán Thế Âm, Ðại Hạnh Phổ Hiền… nên gọi là “Xuất thế gian Tăng Bảo”.
c/Thế gian Tam Bảo:
-Xá lợi của Phật, tượng hình Phật… là “Thế gian trụ trì Phật Bảo”.
-Kinh sách được in chép là “Thế gian trụ trì Pháp Bảo”.
-Chư tăng ni tu hành chân chánh, giới luật trang nghiêm là “Thế gian trụ trì Tăng Bảo”.
4/ Ý nghĩa của Tam Quy: Gồm có Sự và Lý
a/Sự Quy Y Tam Bảo: Các hình thức bên ngoài mà ai cũng có thể thấy.
-Ngày đêm luôn tưởng nhớ hình ảnh đức Phật, niệm Phật, lễ bái, sám hối để tiêu trừ nghiệp chướng gọi là Sự Quy Y Phật.
-Luôn đọc tụng, nghiên cứu kinh Phật, tọa thiền... để gạt bỏ những phiền não, thấu hiểu những lời dạy của đức Phật để được an lạc thanh tịnh, sáng suốt gọi là Sự Quy Y Pháp.
-Luôn cung kính cúng dường, quy ngưỡng các vị xuất gia chân chánh gọi là Sự Quy Y Tăng.
b/Lý Quy Y Tam Bảo: Là những gì có sẵn trong tâm của ta.
-Tự trở về với Phật tánh của mình gọi là Lý Quy Y Phật.
-Trở về với bản thể của mình là Từ bi, Trí tuệ, Hỷ xả... mà ta vốn có nhưng do vô minh che lấp đi gọi là Lý Quy Y Pháp.
-Trở về nương tựa với ông thầy trong tâm ta qua sự hòa hợp, thanh tịnh vốn sẵn có gọi là Lý Quy Y Tăng.
5/ Những lợi ích của Quy Y Tam Bảo:
Trong Ưu Bà Tắc giới kinh có nói: “Vì muốn xa lìa các nạn khổ, dứt trừ các phiền não si mê để đi đến niềm an lạc tịch tịnh vô thượng nên chúng sanh phải quy y Tam Bảo”.
Kinh Thiện Sanh cũng dạy: “Nếu người đã thọ Quy Y rồi thì sẽ được phước báo vô lượng ở nhân gian, không có phước báu nào có thể sánh bằng”.
Những dẫn chứng nói trên cho ta thấy được công đức vô lượng không thể nghĩ bàn của việc Quy Y Tam Bảo. Vậy muốn thoát khỏi đường ác để đi vào đường thiện không ngoài việc Quy Y Tam Bảo. Tóm lại, chỉ có nương tựa vào Tam Bảo mới có thể giải thoát được khổ đau và tiến dần đến an vui tự tại. Nhưng một điều chúng ta phải ghi nhớ là phải nương tựa cả về Sự lẫn Lý mới được hoàn toàn lợi lạc.
6/ Lễ Quy Y:
Lễ quy y là buổi lễ quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với người Phật tử vì nó đánh dấu một bước ngoặt để chính thức trở thành người Phật tử, là bước khởi hành trên con đường tu tập, hướng tới mục đích giác ngộ, giải thoát.
1.Gội rửa thân tâm thanh tịnh: Sau khi được vị tăng già chân chính giới đức chấp thuận nguyện vọng, trước giờ hành lễ chúng ta phải sám hối cho 3 nghiệp được thanh tịnh, tắm rửa thân thể sạch sẽ, y phục trang nghiêm để đối trước tam bảo mà thành tâm thọ nhận 3 phép quy y và 5 điều giới cấm do vị tăng thay mặt tam bảo trao truyền.
2.Phát nguyện: Theo sự hướng dẫn của vị Tăng gọi là Bổn sư truyền giới, người quy y sẽ chí thành đọc trước sự chứng minh của Tam bảo các lời phát nguyện chính yếu sau đây:
-Để tử suốt đời Quy y Phật
-Để tử suốt đời Quy y Pháp
-Để tử suốt đời Quy y Tăng
Và nguyện tiếp:
Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên thần quỷ vật.
Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.
Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y bạn bè xấu ác.
Vị Bổn sư truyền giới đặt cho người quy y một pháp danh. Từ đây, người quy y chính thức là Phật tử là đệ tử của Đức Phật.
III. NGŨ GIỚI:
1. Ðịnh nghĩa: Ngũ giới là năm điều răn cấm mà đức Phật đã đặt ra cho người Phật tử tại gia nhằm ngăn chận những ý tưởng xấu ác, lời nói không thiện và những hành động không tốt. Giới là người thầy hướng dẫn đạo đức, là rào cản để con người khỏi đi vào con đường bất thiện. Trước khi nhập Niết bàn đức Phật đã dạy: “Giới luật còn Phật pháp còn. Ðệ tử của ta trong đời mạt pháp phải lấy giới luật làm thầy, dầu ta có hiện diện hay vào Niết bàn thì giới luật cũng là kim chỉ nam cho người tu”.
2. Các giới luật và lý do phải giữ giới:
1-Không được giết hại: Sinh mạng của loài người hay loài vật đều quý báu, giết hại sinh mạng này để bồi dưỡng cho sinh mạng kia là không hợp lý và là điều ác. Những lý do ngăn cấm giết hại:
Tôn trọng sự công bằng: Ai cũng coi trọng sinh mạng của mình bởi vậy mưu hại đến sinh mạng của kẻ khác hoặc của loài vật là chà đạp sự công bằng vậy.
Nuôi dưỡng lòng Từ Bi: Giết hại mạng sống cho dù là người hay vật đều mang lại khổ đau. Vả lại tất cả chúng sanh đều là cha mẹ, anh em, họ hàng nhiều đời nhiều kiếp với nhau nên phải yêu thương, bảo vệ mạng sống cho nhau.
Tránh quả báo thù hận: Sự oán thù sẽ dâng cao khi bị giết hại và như ta đều biết, gây nhân giết hại thì sẽ bị quả giết hại mà thôi.

2- Không được trộm cắp: Tài sản thuộc sở hữu của người khác mà mình tự ý lấy, ỷ thế cậy quyền cưỡng ép để lấy, hoặc dối lừa của công để sử dụng cho mình đều được xem là hành vi trộm cắp.
Những lý do ngăn cấm trộm cắp:
Tôn trọng sự công bằng: Chúng ta không muốn ai chiếm đoạt tài sản của mình, sao lại đi lấy của người khác? Làm như thế là không hợp lý và không công bằng. Một xã hội thiếu công bằng thì không thể tồn tại lâu dài được.
Diệt trừ lòng tham: Lòng tham sẽ khiến chúng ta gây ra bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng và gây đau khổ cho người .
Xây dựng xã hội an lành: Một xã hội không có trộm cắp mọi người đều sống trong an vui hạnh phúc.
3- Không được tà dâm: Ðối với Phật tử tại gia, dù đã lập gia đình hay chưa mà luôn chơi bời phóng túng, luôn nhớ nghĩ những chuyện tà dục trái với đạo lý thì đều là tà dâm.
Những lý do ngăn cấm tà dâm:
Bảo vệ hạnh phúc gia đình: Không có gì đau khổ bằng nếu trong gia đình vợ hoặc chồng có ngoại tình và kết cuộc là những đổ vỡ, mất hạnh phúc khiến cho con cái trở thành những nạn nhân.
Tránh oán thù và gây nhân xấu ác: Tà dâm là phá hại hạnh phúc của kẻ khác và làm cho họ đau khổ. Từ đó oán thù sẽ dâng cao và khó mà thoát khỏi cảnh đọa lạc vào những đường xấu (súc sanh, ngạ quỹ, địa ngục).
4- Không được nói dối: Nói dối là nói sai sự thật, có bốn cách nói dối:
Nói sai sự thật: Chuyện có nói không, chuyện không nói có; chuyện đúng cho là sai, chuyện sai cho là đúng... gây hiểu lầm, chia rẻ.
Nói lời thêu dệt: Lời nói không chân thật, nói lời ngon ngọt để dụ dỗ, lôi kéo người khác đi theo những ý đồ đen tối có lợi cho mình gây thù hận, phiền não.
Nói hai chiều: Ðến với người này thì nói xấu người kia, đến với người kia thì nói xấu người này. Lời nói này phát xuất từ lòng ganh tỵ mà ra.
Nói lời thô ác: Những lời thô lổ, cộc cằn hoặc chửi rủa người khác để trút cơn giận của mình làm người khác buồn rầu, xấu hổ.
Những lý do ngăn cấm nói dối:
Tôn trọng sự thật: Chúng ta không thể che giấu sự thật mãi mãi. Trong gia đình và ngoài xã hội chúng ta không thể xây dựng hạnh phúc bởi sự dối trá và lừa đảo mãi được.
Nuôi dưỡng lòng Từ Bi: Nguyên nhân của nói dối là do lòng ích kỷ, tham lam mà ra. Người bị lừa gạt phải đau khổ phiền não và như thế là đi ngược với lòng Từ Bi của người Phật tử.
Gìn giữ sự tin cậy nhau trong xã hội: Trong gia đình cho đến ngoài xã hội mọi người đều tin tưởng lẫn nhau sẽ đem lại hạnh phúc, an vui.
5- Không được uống rượu: Tất cả những thứ có chất men hay các dược chất làm say sưa, mê mờ tâm trí đều không được dùng.
Những lý do ngăn cấm uống rượu:
Bảo toàn hạt giống trí tuệ: Khi say sưa con người mất hết sự tỉnh táo, không kiểm soát được ý nghĩ và hành động của mình.
Ngăn ngừa tội lỗi: Khi say sưa con người sẽ dễ tạo ác nghiệp và bị đọa lạc trong các đường dữ.
Nói tóm lại, giới là để ngăn ngừa những hành động, ý nghĩ sai trái và đó là những bước căn bản để đi đến giác ngộ giải thoát. Người Phật tử nói chung và người Huynh trưởng nói riêng phải luôn tinh tấn hành trì Năm giới luật vừa để làm người có nhân cách, làm tấm gương sáng cho đàn em noi theo vừa để tiến dần đến giác ngộ giải thoát cho mình và cho người.
(Tham khảo từ một số tài liệu Bậc Kiên các tỉnh thành và Phật học Phổ thông của cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa)


SỰ TÍCH ÐỨC PHẬT THÍCH CA
(từ sơ sanh đến xuất gia)
I. Thân Thế của Thái Tử Tất Ðạt Ða
Ðức Phật Thích Ca tên là Tất Ðạt Ða, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Ðạt Ða. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ-la-vệ. Mẹ Ngài là Ma-Gia hoàng hậu. Nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía đông bắc thành Ba-la-Nại, phía nam nước Népal.
II. Ngày và Chỗ Ðản Sanh Thái Tử
Thái tử sanh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng hai Ấn-độ, tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu, vào năm 624 năm trước Tây-lịch. Ngài sanh dưới cây vô-ưu, trong vườn Lâm-Tỳ-Ni trong khi Bà Ma-Gia đang dạo chơi vườn cảnh
(Lưu ý : một số tài liệu ghi là năm 544 trước Tây lịch)
III. Thái Tử và Lời Tiên Ðoán của A Tư Ðà
Khi Thái tử sanh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sanh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A-Tư-Ðà đến đoán tướng Ngài nói rằng: ỗThái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phậtỗ.
IV. Sự Giáo Dục và Tài Năng của Thái Tử
Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày thời bà Ma-Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho người dì tên là Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo-sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.
V. Ðời Sống của Thái Tử
Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quí, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những tòa lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn-Ðộ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn-hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng Ngài không bao giờ say đắm, trên mặt luôn luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người. Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.
VI. Thái Tử Lập Gia Ðình
Ðến 17 tuổi, Ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da-Du-Ðà-La. Theo tục quý phái xưa, Thái tử đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da-Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ ngài. Thái tử (và công chúa) sanh được một người con tên là La-Hầu-La.
VII.Thái Tử Tiếp Xúc Với Ðời
Vì có lời tiên đoán của ông A-Tư-Ðà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phạn để cho Thái tử du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.
+Cảnh khổ thứ nhất: Sống là khổ. Một hôm Ngài theo vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khổ đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. Ngài thương chúng sanh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.
+Ba cảnh khổ của cuộc đời : Già, bịnh, chết. Lần sau Ngài lại xin phép Phụ vương ra cửa thành dạo chơi. Lần thứ nhứt Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lần thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ đoanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.
VIII. Tâm Trạng của Thái Tử Sau Khi Tiếp Xúc Với Ðời
Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sanh, Ngài luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến những nỗi đọa-đày lầm than của chúng sanh, và Ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sanh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sanh thoát khỏi đau khổ.

IX. Cảnh Giải Thoát và Thái Tử Xuất Gia
Cảnh giải thoát. Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một Vị Sa-môn thanh cao bình-tỉnh. Ngài hỏi rằng: ỗNgài là ai?ỗ Vị Sa-môn đáp: "Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chếtỗ . Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ xuất gia tìm đạo là phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi bể khổ mênh mông.
Thái tử xuất gia. Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da-Du-Ðà-La ngõ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi-nữ hay bịn-rịn có thể ngăn trở ý-định, Ngài chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa-Nặc, thắng ngựa Kiền Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mãi ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng hai.
X. Kết Luận
Cử chỉ của Ngài xuất gia là một gương sáng cho mọi người soi chung. Vì lòng thương chúng sanh, lòng thương nhân loại. Ngài đã bỏ cung điện giàu sang, giường cao nệm ấm, cao lương mỹ vị và cả ngôi báu. Cho đến vợ đẹp con yêu, Ngài cũng đành từ giã để đi tìm hạnh phúc chơn thật cho chúng sanh đang đau khổ. Cử chỉ của Ngài ra đi nhắc nhũ cho muôn loài biết rằng hạnh phúc không thể tìm trong danh vọng tài sắc, và những người thật thương yêu chúng sanh phải tìm chơn lý để soi sáng cho chúng sanh. Cử chỉ của Ngài lúc ra đi là cả một sức mạnh quyết tìm chơn lý, và chơn lý chỉ đến với những tâm hồn cao cả thoát tục, tràn đầy một lòng vị tha không bờ bến.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
________________________________________
Lịch sử Phật Thích Ca
(Từ Xuất Gia đến Nhập Diệt)
I. THÁI TỬ XUẤT GIA
Nửa đêm mồng 8 tháng hai, Thái tử cùng Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc, vượt cửa thành ra đi. Ngài đến sông A-Nô-Ma, rồi xuống ngựa, lấy gươm cắt tóc giao cho Xa-Nặc đem tất cả đồ trang sức và ngựa về cung tâu với phụ vương rõ chí quyết định của Thái tử. Rồi Ngài cởi áo đổi cho một người thợ săn, cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời xa hoa vương giả, khoát chiếc áo hoại sắc, một mình một thân đi tìm đạo.
II. THÁI TỬ HỌC ÐẠO
Trước hết Ngài đi tìm hiểu và hành trì các đạo đang lưu hành trong nước, tìm xem có đạo nào là chơn chánh giải thoát cho muôn loài.
Thái tử hỏi đạo lần thứ nhất: Thái tử đi lần đến thành Vương Xá đến hỏi đạo các vị Tiên ở rừng Bạc Già tu theo khổ hạnh để được làm Ma Vương, Thiên Thần, được thần thông. Thái tử nhận thấy tu theo khổ hạnh lên cõi trời cũng sung sướng thật nhưng hết phước rồi sẽ đọa vào các cõi đau khổ, chưa phải là đạo chơn chánh giải thoát.
Thái tử hỏi đạo lần thứ hai: Rồi Ngài từ giã các vị Tiên và đến phía Bắc thành Tỳ Xá Ly hỏi đạo ông A-La-La tu về Số luận, chuyên nhiếp tâm vào định Sơ thiền v.v... sanh vào cõi Trời vô tưởng, đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô tưởng nhưng Ngài nhận thấy không phải là giải thoát, nên Ngài từ tạ ra đi.
Thái tử hỏi đạo lần thứ ba: Ngài đến hỏi ông Uất-Ðầu-Lam-Phất, chuyên dạy các sự chấp trước có hình tướng hay không hình tướng đều là sai lạc, chỉ phải lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn vật mới được giải thoát và sanh về cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ; Thái tử liền tu theo và chứng được Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.
III. THÁI TỬ TU KHỔ HẠNH
Thái tử ba lần hỏi đạo, biết rằng các đạo hiện hành không có đạo nào là chơn chánh giải thoát. Ngài tự nghĩ phải chính thân hành trì chuyên tu mới có thể tìm rõ đạo chánh. Ngài liền đến rừng Ưu-Lâu-Tần-Loa phía nam núi Tượng Ðầu bên sông Ni-Liên-Thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm người bạn là Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lịch Ca Diếp, Ma Ha Nam Câu Ly và Bạc Ðề. Ngài tu trong sáu năm, cương quyết hành hạ tự thân ép xác đến nỗi mỗi ngày chỉ ăn một hột gạo một hột mè. Ngài càng tu khổ hạnh càng gầy mòn yếu ốm đến nỗi một ngày kia phải té xỉu chết giấc. Khi Ngài tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng hành hạ xác thân quá đáng không ích gì, người cầu đạo cần phải phát chiếu trí huệ mới mong được giác ngộ. Nghĩ thế Ngài nhất định ăn uống như thường, để giữ lại cái thân làm lợi khí trong công cuộc tìm đạo giải thoát. Năm người bạn đồng tu thấy vậy tưởng Ngài thối chí nên bỏ đi.
IV. THÁI TỬ THAM THUYỀN
Khi ấy một thiếu nữ tên Tu Xà Ðề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền đem sữa đến dâng. Ngài dùng sữa xong, sức lực tỉnh phục, rồi xuống sông Ni-Liên-Thuyền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong Ngài liền đến dưới cây Bồ Ðề, trải cỏ làm nệm và ngồi tịnh tọa tham thiền luôn trong 49 ngày. Ngài thề rằng: "Nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi cây Bồ Ðề này".
V. THÁI TỬ THÀNH ÐẠO
Ngài định tâm chuyên chú: nhứt tâm mặc tưởng thuyền vu. Các Ma vương sợ Ngài thành đạo sẽ giác ngộ cho mọi loài bèn rủ nhau đến quyến rũ mê hoặc hại Ngài. Nhưng Thái tử định lực cao cường, nên chiến thắng tất cả sự cám dỗ cuả Ma vương.
Ðến đêm mồng Tám tháng chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh thấy rõ kiếp trước của mình của người; canh hai chứng quả Thiên nhãn minh giác ngộ hoàn toàn cùng khắp; canh ba chứng quả Lậu tận minh diệt trừ hết thảy mê lầm vô thỉ. Ðến lúc sao mai mới mọc, Ngài liền chứng đặng đạo Vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lúc bấy giờ quả đất đều rung động nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.
VI. ÐỨC PHẬT ÐI TRUYỀN ÐẠO
Khi Ngài mới chứng quả, Ngài còn ngần ngại chưa muốn đi truyền đạo ngay vì sợ đạo Ngài sâu xa khó hiểu. Nhưng sau Ngài phán rõ căn cơ và ứng dụng các phương tiện. Ngài mới cương quyết đem đạo Phật ra giáo hóa chúng sanh.
Trước hết, Ngài đến vườn Lộc Uyển, thuyết Bốn Ðế độ cho nhóm ông Kiều Trần Như. Bắt đầu từ đó mới có đủ Phật, Pháp, Tăng - ba ngôi báu.
Sau Ngài độ cho một thanh niên tên Da-Xá và chỉ trong ba tháng Ngài có hơn 60 đệ tử. Dưới đây là một vài đệ tử có danh, đức Phật đã giáo hóa trong khi truyền đạo:
Ông Ca Diếp vị Tổ sư thờ lửa và các vị đồ đệ của ông.
1-Vua Tần Bà Ta La xứ Ma Kiệt Ðà.
2-Ông Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất và ông Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất.
3-Ông Nan Ðà, ông A Nan, ông Ưu Bà Ly và ông A Na Luật Ðà.
4-Bà Di mẫu Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Ðề là người đàn bà đầu tiên được đức Phật cho vào Giáo hội.
5-Ông Tu-Bạt-Ðà-La hơn 80 tuổi là vị đệ tử cuối cùng của Ðức Phật.
Ðức Phật thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Ngài thường đi thuyết pháp trong 9 tháng nắng, còn các tháng mưa thì ở lại Tịnh xá để chuyên tu.
VII. ÐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN
Ðến ngày trăng tròn tháng hai Ấn Ðộ, Ngài biết mình sắp nhập Niết bàn, liền đến xứ Câu Ly, vào rừng Xa-Nại, khiến treo võng nơi hai cây song thọ. Ngài hội họp các hành đệ tử lại giảng dạy khuyên bảo lần cuối cùng rồi từ giã mọi người nhập Niết Bàn. Ngài hưởng thọ được 80 tuổi. Trước khi Ngài viên tịch, Ngài phú chúc cho ông Ca Diếp thọ lãnh y bát của Ngài để truyền đạo.
VIII. KẾT LUẬN
Ðời Ngài từ lúc xuất gia đến lúc nhập diệt là cả một gương sáng tìm đạo, hành đạo, truyền đạo để cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ. Ngài cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời vương giả, dấn thân trong gian khổ để đi tìm đạo rồi lại chuyên tu khổ hạnh hơn sáu năm, tham thuyền trong 49 ngày chứng quả; rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm để truyền đạo chơn chánh cứu khổ cho muôn loài.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)



ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG
I. DẪN NHẬP
Trong Kinh KALAMA , đức Phật có dạy về đức tin như sau : “ Các người đừng tin những gì dù điều đó là do các vị Giáo chủ nói ra; dù điều đó được nhiều người cùng nói ; dù điều đó đã được lưu truyền từ xưa đến nay.....Nhưng các ngươi hãy tin vào những điều nào mà tự mình đã suy xét , đã chiêm nghiệm, đã thực hành và thấy rằng điều đó đem lại lợi ích cho bản thân và mọi người”.
Lời dạy trên đây là đặc tính căn bản của đức tin theo Phật Giáo . Huynh trưởng chúng ta xây dựng đức tin trên nền tảng lời dạy trên đây của Phật.
II. TÍNH CHẤT CỦA ĐỨC TIN NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG
Đức tin của người Huynh trưởng có tính chất như sau:
1) Đức tin dựa trên nền tảng trí tuệ : chúng ta chỉ tin sau khi đã hiểu biết , đã suy nghiệm, đã quán xét tường tận .Muốn có khả năng hiểu biết và suy nghiệm, chúng ta phải rèn luyện trí tuệ sắc bén bằng cách không ngừng học tập lời Phật dạy.
2) Đức tin dựa trên việc thực hành giáo pháp Phật : chỉ có sự thực hành mới đem lại niềm tin vững chắc .
Tóm lại, đức tin người Huynh trưởng là một thứ đức tin kết hợp bởi Tri và Hành ( hiểu biết và thực hành ). Chúng ta không đặt niềm tin một cách mù quáng vào một đấng giáo chủ nào , cũng không làm nô lệ cho một quyển sách nào.
III. NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG TIN NHỮNG GÌ ?
1) Tin vào đức Phật : Đức Phật là một con người có thật, có đời sống và lịch sử rõ ràng, Ngài đã thực hiện hoài bão cứu vãn cuộc đời, dẫn dắt chúng sanh ra khỏi biển khổ trầm luân và đã từ bỏ ngai vàng, chịu đựng cuộc sống cực kì gian khổ để thực nghiệm chân lí, và chứng thành đạo giác ngộ. Cuộc đời của ngài xứng đáng nhất cho chúng ta tôn kình và cảm phục, tin tưởng hướng về noi theo gương lành để trở thành con người có giá trị chân thực.
2) Tin vào giáo pháp Phật : Giáo pháp của Phật là những phát hiện về chân lí của vạn hữu và nhân sinh qua quá trình thể nghiệm của tự thân Đức Phật. Giáo pháp còn là những phương tiện, con đường dẫn đến chân lí giác ngộ giải thoát. “Hãy ẩn náu nơi giải pháp như một hải đảo, như chỗ thiêng nương tựa, không nên tìm ẩn náu từ bên ngoài” (Lời Phật dạy”
3)Tin vào giáo hội truyền ghừa của Đức Phật: sau Phật và Pháp, Tăng già là ngôi bàu thứ ba của ngươì Phật tử, Giáo hội tăng già là một tập thể đông đảo cộng trụ, thực hành Giới, Định, Huệ một cách rốt ráo, có đời sống thanh khiết, đạo đức gương mẫu. Thực hiện nhiệm vụ cao cả của Như Lai là truyền bá chánh pháp để mưu cầu đời sống an lạc cho nhơn loại.
4) Tin vào năng lực giác ngộ của chính mình : Đức Phật dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” và “Ta là Phật đã thành , các người là Phật sẽ thành” . Theo đó , chúng ta tin rằng khả năng giác ngộ thành Phật của ta cũng như mọi chúng sanh đều có thể thành tựu một khi chúng ta kiên trì , tinh tấn tu tập theo giáo pháp Như Lai .
Tin Phật tức là tin và thực hành theo lời Phật dạy. Tin tưởng vào năng lực của chính mình, người Phật tử sẽ suy nghĩ, nói năng, hành động, nỗ lực hạ thủ công phu theo Phật pháp chắc chắn sẽ cải thiện được bản thân, chuyển hóa hoàn cảnh tự tạo cho mình cuộc sống an vui, lợi lạc xã hội. Đức Phật đã từng dạy các đệ tử: “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Ngài không hề hứa sẽ giác ngộ thế cho ai. Hóa độ có nghĩa là chỉ đường giác ngộ, còn giác ngộ là tự mỗi người sẽ thực hiện lấy.
5) Tin vào sự trường tồn và vinh quang của đất nước và dân tộc: Chúng ta luôn biết rằng: Từ khi du nhập vào Việt nam cách đây gần 2000 năm, Đạo Phật đã hòa quyện gắn kết với tinh thần dân tộc thành một khối keo sơn, cùng làm nên tinh thần, bản sắc văn hóa, nếp sống dân tộc.
Gia đình Phật tử sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc. Đất nước có độc lập vinh quang thì Phật giáo mới được phát huy rực rỡ và GĐPT mới phát triển, vững mạnh. Hơn ai hết, người Huynh trưởng phải có tinh thần yêu nước, tự hào vơí truyền thống dân tộc, làm tròn phận sự vơí tổ quốc. Tin tưởng vào tương lai dân tộc là động lực thúc đẩy ngươì Huynh trưởng tinh tấn trên con đường phụng sự đạo pháp, xây dựng quê hương.
6) Tin vào múc đích và lí tưởng của GĐPT: Người Huynh trưởng đến vơí GĐPT vì trước hết đã nhận định và chấp nhận mục đích chính đáng của GĐPT: “Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chánh, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội”. Đến với GĐPT, người Phật tử đã chọn cho mình một lý tưởng cao thượng đó là lý tưởng sống và phụng sự: Phụng sự đạo pháp, phụng sự dân tộc và phụng sự con người.
Gia đình Phật tử có đường lối giáo dục đúng đắn, dựa trên nền tảng giáo lý đạo Phật, tinh thần Bi- Trí- Dũng là cốt lõi với phương châm giáo dục tự giác, nhân bản, bình đẳng và toàn diện cả 3 mặt: Đức, Trí, Thể dục. Truyền thống của GĐPT là truyền thống tự lực, tự cường, vô vụ lợi, kì luật tự giác, tinh thần thủy chung, kiên định nhẫn nhục, đoàn kết, hòa kính, tương thân, tương ái. Gấn 60 năm thành lập và tồn tại, phát triển, tổ chức GĐPT Viêt Nam luôn giữ vững truyền thống ấy.
Tin vào lí tưởng và mục đích GĐPT, người Huynh trưởng tăng thêm nghị lực, bền gan, kiên chí, nỗ lực tu học, tích cực hoạt động vơí tinh thần trách nhiệm. góp phần phát triển GĐPT trong lòng đạo pháp trường tồn và dân tộc.
7) Tin vào năng lực giác ngộ của đoàn sinh: Trước khi xác định mục đích GĐPT, Những người sáng lập tổ chức đã tin tưởng vào : “chủng tử giác ngộ” vốn có nơi mỗi đoàn sinh. Tin tưởng như vậy có nghĩa là chúng ta tin tưởng vào tương lai trưởng thành nhân cach tốt đẹp của các em để có công hướng dẩn các em đi trên con đường tuơi sáng an lành. Tin tưởng như vậy, người Huynh trưởng mới khỏi thối chí nản lòng khi gặp các em ngỗ nghịch, bướng bỉnh hay chây lươì. Phụ huynh Đoàn sinh đã tin tưởng đưa con em đến GĐPT để giáo dục, thì người Huynh trưởng GĐPT càng phải nêu cao tấm gương sáng về phẩm cách đạo đức và lòng nhiệt thành của bản thân. Tin vào sự hướng thiện của các em là yếu tố cần thiết để người Huynh trưởng luôn phát huy vai trò giáo dục đoàn sinh của mình.
IV. KẾT LUẬN
Đức tin của người huynh trưởng GĐPT là một thứ đức tin sáng suốt dựa trên Trí tuệ và Thực hành . Đức tin ấy càng tỏa sáng và càng kiên cố trong suốt quá trình Văn - Tư - Tu (tiếp thu - suy nghiệm - thực hành ) của người huynh trưởng .
Chúng ta không nhắm mắt cầu xin sự cứu rỗi của một vị thần linh nào , mà chúng ta luôn ý thức rằng cuộc đời của ta xấu hay tốt đều do chính chúng ta chịu trách nhiệm và chúng ta có đủ khả năng để tự giải thoát ra khỏi những đau khổ bất hạnh bằng cách học và hành theo lời Phật dạy ./.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Re: Bậc Kiên   Wed 20 Jan 2010, 02:15

BỐN ÂN
I. LỜI NÓI ÐẦU
Làm người ở đời, được sống, được thành đạt chút gì toàn nhờ công ơn của mọi người, của xã hội, của chúng sanh. Nhất là người Phật-tử lại có công ơn của Phật-Pháp-Tăng đã đem lại huệ mạng cho mình. Nên những ai muốn thành tựu nhân cách, muốn nhận rõ ý niệm của đời sống tương quan, không thể không biết đến bốn ân và những phương cách đền đáp.
II. HÀNH TƯỚNG BỐN ÂN
Bốn ân là ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân quốc gia xã-hội, ân Tam-Bảo.
a. ÂN CHA MẸ
1-Ân sinh sản: Chín tháng cưu mang, bà mẹ bỏ ăn mất ngủ, thân thể không an. Ðến khi sanh sản đau đớn vô cùng khác gì đứt từng khúc ruột. Còn cha phải chạy ngược chạy xuôi, lo sắm vật dụng để chu-toàn cho mẹ con, và hồi hộp trông mong cho mẹ con được vuông tròn.
2-Ân nuôi nấng: Khi mới sanh, phải nhờ cha mẹ đồ sữa mem cơm, bồng ẳm dắt-dìu, cha mẹ phải luôn luôn săn sóc, không thể rời xa được một ngày.
3-Ân thuốc thang : Mỗi khi khôn lớn, cha mẹ phải chăm lo dạy bảo, trau dồi đức hạnh để con đủ tư cách làm người, và để tự nuôi nấng ở đời.
4- Ân dạy bảo: Cha mẹ luôn chăm lo dạy bảo cho con những điều hay lẽ phải, lo cho ăn học để đủ tư cách làm người và hòa nhập xã hội.
B. ÂN THẦY BẠN
1-Mở rộng kiến thức : Vì muốn nâng cao trình độ hiểu biết cho ta, nên thầy phải gia công dạy bảo, không kể hao tổn tinh-thần.
2-Khuyến-khích : Thầy bạn luôn ở bên mình để khuyến khích dắt dẫn, trong những lúc bị thất vọng chán-nản, trong những trường hợp khó khăn, trong những lúc bị tai nạn bất ngờ.
3-Khai sáng trí thức : Bây giờ biết đọc biết viết, biết nhận xét sự lý, toàn nhờ công ơn của thầy bạn đã luôn luôn dạy bảo dắt dìu.
C. ÂN QUỐC-GIA XÃ-HỘI
1-Trị An : Nhờ lãnh đạo nhà nước luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ nước nhà, mở-mang các công-nghệ, dẹp trừ những kẻ tham lam bóc lột, đem lại thái-bình thạnh-trị cho dân chúng.
2-Cơm ăn, áo mặc, phương tiện sử dụng : Ta có cơm ăn áo mặc, phương tiện hàng ngày toàn nhờ công ơn của những người lao động do sự phân công xã hội mà có
3-Thuốc thang : Bệnh viện và các lương-y tận tình giúp chúng ta thoát khỏi đau ốm được sống lành mạnh vui vẻ.
4-Khắc phục thời tiết, xóa đói giảm nghèo, tương trợ khó khăn….: Nhờ những chính sách sáng suốt của nhà nước mà người dân vượt qua được những khó khăn do thời tiết, thiên tai, địch họa
D. ÂN TAM-BẢO
1-Ân Phật-bảo
a) Xã quốc, thành thê tử : Vì muốn cứu độ chúng-sanh, nên đức Phật bỏ tất cả quốc thành, bửu vị, thê tử, quyến thuộc để xuất-gia tìm đạo.
b) Sáu năm khổ hạnh : Vì muốn chứng chơn-lý để giải thoát chúng-sanh, nên Ngài đã quên đói rét, tu khổ-hạnh sáu năm trời. Rồi Ngài lại ngồi tham thuyền 49 ngày dưới gốc cây Tát-ba-la để thành đạo cứu độ chúng-sanh.
c) Thuyết-pháp giáo-hóa : Trong 49 năm, Ngài không quản những nỗi gian lao khổ nhọc đi khắp đó đây, để thuyết pháp giáo-hóa chúng-sanh, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo căn cơ mà dạy-dỗ, dẫn dắt chúng-sanh, để chánh pháp được lưu truyền muôn thuở.
2-Ân Pháp-bảo :
a) Mở đường giải-thoát : Nhờ pháp-bảo, chúng ta mới biết đường lối tu hành, thoát ly sanh tử, chứng cảnh giới thanh tịnh an vui.
b) Giản trạch tà chánh : Nhờ pháp-bảo, chúng ta nhận rõ được sự lý trong vũ-trụ, phân biệt được các pháp tà chánh.
c) Diệt ác hưng thiện : Pháp-bảo có công năng dẹp trừ những ác pháp, bồi đắp, phát khởi các thiện pháp.
3-Ân Tăng bảo :
a) Duy trì chánh pháp : Các vị xuất-gia tu hành, phiên dịch, diễn giảng ba Tạng giáo-điển, khiến Phật-pháp thường còn không mất.
b) Thay Phật thuyết pháp : Sau khi Ðức Phật nhập diệt, các vị Tăng-già chịu lời phúc chúc của đức Phật, đem đạo mầu giáo hóa khắp nơi.
c) Truyền trao giáo pháp : Các vị tại gia cư sĩ muốn phát tâm cầu đạo giải thoát, đều nhờ các vị Tăng già truyền trao giới pháp nêu gương tu hành.
III. PHƯƠNG TIỆN ÐỀN TRẢ BỐN ÂN
a. Cách Báo Ân Cha Mẹ:
-Hiếu hạnh: Cung kính, vâng lời hết lòng phụng sự cha mẹ.
-Tôn trọng danh dự: Không làm phiền lòng cha mẹ bằng cách làm mất danh dự của gia tộc, mất tư cách con người.
-Hiển danh cha mẹ: Tự mình tài đức hơn người thì cha mẹ được thơm lây, lưu tiếng nghìn thu.
-Khuyến hóa: Khuyến khích cha mẹ cải tà quy chánh, quy y Tam Bảo, thực hành Phập Pháp. Như gương của Ngài Mục-Kiền-Liên cứu mẹ ra khỏi ngạ quỷ, như Ðức Phật Thích-Ca sau khi thành Phật lên cõi trời Ðạo-lợi giáo hóa cho mẫu hậu và về thành Ca-Tỳ-La-Vệ giáo hóa cho phụ vương.
b. Cách Báo Ân Thầy Bạn:
-Siêng năng học tập: Ðể khỏi phụ lòng dạy dỗ dắt dẫn của thầy bạn.
-Cung kính lễ độ: Hết lòng cung kính thầy, thương mến chân thành với bạn.
-Thực hành: Sống đúng theo lời thầy bạn dạy bảo khuyên nhủ.
-Khuyến hóa: Khuyến hóa thầy bạn sống đúng theo lời Phật dạy.
c. Cách Báo Ân Quốc Gia Xã Hội:
-Tròn bổn phận: Sống và làm việc theo pháp luật, biết đoàn kết, hăng say cống hiến khả năng, trí tuệ làm dân giàu nước mạnh.
-Phát triển văn hóa: Xây dựng gia đình văn hóa, góp phần làm cho nền văn hóa nước nhà được dồi dào, nâng cao trình độ, phát huy đạo đức nhân dân hướng đến chân thiện mỹ. Không quá tham cầu về vật chất, sống đời sống giản dị, thanh tao.
-Kinh doanh thương nghiệp: Kinh doanh buôn bán để nâng cao đời sống xã hội.
-Tương thân tương ái: Thương yêu cứu giúp tất cả người và vật.
d. Cách Báo Ân Phật Pháp Tăng:
-Học và hành lời Phật dạy: Nghiên cứu học tập kinh điển Phật dạy, tập sống đúng theo như lời đức Phật dạy.
-Hộ trì Phật pháp: Tổ chức các hoạt động Phật giáo thành tâm ủng hộ Phật pháp và làm các Phật sự.
-Cung kính cúng dường: Trọn đời quy ngưỡng Phật Pháp Tăng, cung kính cúng dường các vị tu hành giới thanh tịnh.
IV. KẾT LUẬN:
Không luận người sang kẻ hèn, đã sống ở đời tức phải biết bốn ân và tìm tất cả phương tiện để trả. Riêng đối với người Phật tử, được nhận rõ công ơn của chúng sanh, của Phật Pháp Tăng nên cần phải luôn luôn cố gắng đền đáp bốn ân. Và muốn vậy, người Phật tử phải nhận rõ rằng, chỉ có sống đúng theo lời Phật dạy, và khuyến hóa mọi người, mọi loài đều sống theo lời Phật dạy, là cách đền ơn trả nghĩa quý hóa thiết thực nhất, và đúng với bản nguyện của chư Phật và các vị Bồ tát.
Người Huynh trưởng GĐPT với nhiệm vụ hướng dẫn và dạy dỗ các em Đoàn sinh, trước hết phái nêu gương tốt, phải hiều biết và thực hành báo đáp bốn ân. Ngoài ra phải luôn luôn động viên, khuyến khích các em luôn hiếu thảo với cha mẹ, chăm lo học tập, kính trọng thầy cô, thương yêu bạn bè, làm người công dân tốt trong xã hội, tu học và làm theo lời Phật dạy, áp dụng bài học vào đời sống hằng ngày. Làm được những điều đó là một phần báo đáp bốn ân vậy.

ĐẠO PHÁP VỚI DÂN TỘC
Nước Việt Nam ta có 4000 năm văn hiến kể từ khi Vua Hùng bắt đầu dựng nước và sự nghiệp dựng nước trài qua bao thế hệ. Phật giáo truyền vào nước ta từ thế kỉ thứ hai và. Đạo Phật đã thực sự đồng hành cùng dân tộc Việt Nam suốt 20 thế kỷ qua kể từ khi du nhập.
1) Những thể hiện đồng hành của Phật giáo và dân tộc :
- Từ thời kỳ đất nước còn sơ khai , các tu sĩ Phật giáo luôn có mặt đi đầu trong công cuộc dựng nước và giữ nước ( như các thiền sư : Khánh Vân , Vạn Hạnh , Khuông Việt....) . Đến thời kỳ chống Pháp , chống Mỹ các tu sĩ Phật giáo vẫn có mặt trong hàng ngũ kháng chiến . Điều này chứng tỏ luôn cùng dân tộc chia sẻ hoạn nạn , buồn vui trong từng vận mệnh của đất nước .
- Giáo lý Đạo Phật gần gũi với truyền thống tốt đẹp của dân tộc như : hiền hòa , tương thân tương ái , siêng năng càn cù , quảng đại tha thứ , thông minh và ham học hỏi , dũng cảm ....
- Các ngôi chùa Phật giáo cũng như đời sống các vị thiền sư luôn gần gũi với cuộc sống của nhân dân , cùng chịu chung số phận của nhân dân trong từng thời kỳ vui buồn của đất nước . Ngôi chùa Việt Nam ngoài nhiệm vụ tâm linh còn là nơi nương náu bình an cho những người dân bị thiên tai địch hoạ .
- Giáo lý Phật giáo đã dần dần thấm sâu vào đời sống của nhân dân qua các tập tục như : tục trồng cây nêu , tục Vu lan báo hiếu , tục cầu an cầu siêu.....Về ngôn ngữ , những câu nói trong cửa chùa đã trở thành câu nói cửa miệng dân gian như : hằng hà sa số , tội nghiệp , đầu thai , nghiệp chướng , Ta bà thế giới ....
-Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt"[2], từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa[2], Bụt được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật".
- Nền văn học Việt Nam còn lưu lại những tác phẩm Phật giáo bất hủ như : Quan âm Diệu Thiện , Quan âm Thị Kính , Mục Liên Thanh Đề ..... Trong kho tàng cổ tích Việt Nam , Bụt ( Phật) là nhân vật xuất hiện như một vị cứu tinh mang lại điều lành và cứu giúp cho những người gặp điều bất hạnh .
- Tiếng chuông chùa là tiếng đồng hồ chính xác cho sinh hoạt của làng quê ,đồng thời nó còn là âm thanh gợi lên lòng yêu thương nhung nhớ quê nhà đối với người lữ khách tha hương .v..v..
“Quê tôi có gió bốn mùa
Có giăng giữa tháng có CHÙA quanh năm
CHUÔNG hôm gió sớm giăng rằm
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi
Mai đây tôi bỏ quê tôi
Bỏ giăng, bỏ nước, chao ôi bỏ chùa.”
( Thơ Quê tôi – Nguyễn Bính)
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
(Thơ – Huyền Không)
Tự rất lâu đời dân tộc ta đã có những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ thể hiện rõ rệt sự hòa nhập sâu sắc thấm nhuần đạo Phật và dân tộc:
- Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt
- Hiền như Bụt
- Dù xây chín đợt phù đồ
Không bằng làm phúc cứu một người
- Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Việt theo lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm.
Lễ Vu Lan Bồn trong kinh điển Phật Giáo đã trở thành truyền thống “ Ngày rằm thàng bảy XÁ TỘI VONG NHÂN” và tập quán “Rằm tháng bảy ai quảy nấy ăn” hằng năm thấm đượm tình cảm sắc sắc ý nhị của dân tộc ta.
Cũng tự lâu đời, Tam Bảo được nhân dân sùng kính là một hình thức biểu lộ cụ thể là tập quán các làng có chùa thường cấp ruộng để phụng cúng gọi là ruộng Tam Bảo hay ruộng chùa. Hàng năm các làng thường cử hành các lễ tiết như kỳ an, kỳ phúc, kỳ siêu, các hội hè đình đám gọi là Hội chùa, hội làng mang truyền thống và màu sắc Phật Giáo.
- “Cha đánh mẹ trao cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm”, hoặc
- “Mồng 6 tháng 3 ăn cơm với cà đi hội Chùa Tây”
Còn rất nhiều điều để chứng minh sự hoà quyện của tinh thần Phật Giáo với nếp sống dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay mà trong phạm vi bài học không sao kể xiết.
Tóm lại, Phật Giáo khi đến Việt Nam,đã dần dần đi sâu vào đời sống của người dân Việt như nước hoà với sữa, đến nỗi chúng ta tưởng chừng đạo Phật là đạo của Dân Tộc Việt Nam chứ không phải là một tôn giáo đến từ đất nước Ấn Độ xa xôi.
2) Những nguyên nhân đưa đến sự đồng hành của Phật Giáo với Dân Tộc Việt Nam:
- Phật Giáo đến Việt Nam không với tư cách xâm lược bằng vũ lực như các tôn giáo khác. Đầu tiên, các tu sĩ Phật Giáo theo chân các đoàn thuyền buôn từ Ấn Độ cập bến Giao Chỉ để truyền bá đạo Phật trong tinh thần Hoà Bình, tự nguỵện và đã đem lại lợi ích về tinh thần cho người Giao Chỉ lúc bấy giờ.
-Giáo Lý đạo Phật như vô thường, vô ngã, vị tha, tri túc..v.v.. là liều thuốc hiệu nghiệm đối với người dân Giao Chỉ đã chịu ách nô lệ của Tàu hàng ngàn năm. Họ luôn chịu sự thống khổ triền miên do chế độ hà khắc của Tàu. Nay, họ tiếp thu giáo lý Vô thường của Phật Giáo cho rằng: “Mọi việc trên đời đều không tồn tại vĩnh viễn” khiến họ cảm thấy tin tưởng hơn ở tương lai sẽ không còn chế độ nô lệ hà khắc của quân Tàu nữa. Ngoài ra, giáo lý Vô ngã,Vị Tha của PG làm cho họ thương yêu đồng bào hơn và đoàn kết tương trợ nhau trong cơn hoạn nạn vì mất nước.Còn Giáo Lý Thiểu Dục Tri túc thì có tác dụng làm cho họ không còn cảm thấy bất hạnh trong cuộc sống thường xuyên thiếu thốn .
-Đạo Phật đến Việt Nam từ Ấn Độ nhưng đã nhanh chóng hội nhập vào nền Văn Hoá bản địa rồi dần dần đồng hoá với Văn Hoá người Việt. Đó là điều kiện làm cho Phật Giáo và Dân Tộc Việt Nam ngày càng gắn bó hoà hợp.
Tóm lại, giáo lý Phật Giáo đã xuất hiện đúng lúc và đem lại cho người dân Việt Nam mất nước một sự đồng tình và niềm an ủi lớn lao, khiến cho họ nhanh chóng tiếp thu nền giáo lý ấy.
3-Đạo Phật gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc:
a-Về tư tưởng, phong hóa chính trị: Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189[2].
-Các thiền sư PG đã sát cánh cùng nhân dân trong buổi đầu dựng nước qua các triều đại nhà Đinh, Lê, Lý, Trần. Từ đó,hình ảnh cũng như giáo lý PG đã trở nên thân thiện và được toàn dân tôn kính tiếp nhận.
-Thiền sư Ngô Chân Lưu được vua Đinh tín trọng tham vấn triều chính phong làm Tăng thống và cử giữ chức vụ tối cao là Khuông Việt Thái Sư, đến đời Lê Đại Hành vẫn tiếp tục giúp vua trong việc quân cơ chính trị.
-Thiền sư Pháp Thuận không những có tài thi ca mà còn giỏi học thuật, trước tình trạng đất nước lâm nguy sau cái chết của Đinh Tiên Hoàng, đã giúp Lê Đại Hành nắm lấy quyền bính, ổn định nhân tâm, tập trung sức mạnh toàn dân kháng chiến chống xâm lược Tống bảo vệ đất nước thành công.
-Với trí tuệ tuyệt vời và tầm nhìn xa trông rộng, thiền sư Vạn Hạnh đã khéo léo tiến hành cuộc vận động tài tình không đổ máu đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua thay thế hôn quân Lê Ngọa triều, cứu muôn dân ra khỏi lầm than, đưa đất nước vào thời kỳ cường thình rực rỡ chưa từng có.
Có thể khẳng định rằng đạo Phật đã góp phần không nhỏ un đúc sức mạnh tinh thần dân tộc, đưa đến các chiền công hiển hách bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi vào các thời Lê, Lý, Trần mà hầu hết các vị vua hùng, các tướng tài thao lược từng được giáo huấn trong môi trường Phật giáo, thấm nhuần tinh thần Bi-Trí-Dũng của đạo Phật như Lê Đại Hành, Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tôn, Lý Nhân Tôn, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tôn, Trần Nhân Tôn, Trần Trung…là những tên tuổi sáng ngời tiêu biểu.
Trả lời vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước, thiền sư Pháp Thuận đã cô đọng tư tưởng sâu sắc “DĨ ĐẠO TRỊ QUỐC, DĨ ĐỨC AN DÂN” qua bài kệ QUỐC TỘ ngắn gọn:
“Vận nước như dây quấn
Trời Nam ôm thái bình
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh”
Cho nên “Có thể nghĩ rằng phải một ngàn năm mất nước và kiên trì đấu tranh giành lại nước, từ đó thâu thái tinh hoa của Thiền học, thiền tông thì trí tuệ Việt Nam mới nảy sinh được một tư tưởng uyên thâm và uyển chuyển, đồng thời lại chung đúc trong một hình thức súc tích mà hùng hồn như vậy” (Đánh giá của Giáo sư Trần Thanh Đạm, trích dẫn NS Giác Ngộ số 16).
-Dưới sự chỉ đạo tinh thần tư tưởng của đạo Phật, xã hội nhà Lý là một xã hội thuần từ nhất trong lịch sử. Vua chúa thì nhân hậu, thương dân, quần thần trung hiếu, dân chúng tuân thủ phép tắc lễ nghi. Nhờ xuất thân là một Phật tử được nuôi dạy ở chùa thấm nhuần tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật nên Lý Thái Tổ đã ban tiền lụa cho các bậc kỳ lão ở quê hương, hỏi ý kiến họ về kế sách trị nước. Khi mới lên ngôi nhà vua đã chỉ dụ xá thuế 3 năm cho cả nước, xóa bỏ thuế còn thiếu những năm trước cho những người mồ côi góa chồng già yếu, cấp phát quần áo cho tù binh bị bắt vào cuối đời Tiền Lê và cho về quê quán.
-Vua Lý Thái Tôn mặc dù vào năm được mùa to nhưng vì việc chinh chiến cực nhọc nên vẫn xá cho dân một nửa năm thuế. Nhà vua lại đã từng cày ruộng ở BỐ HẢI cho dân noi theo và thiết lập kỷ cương xã hội bằng cách: “Các quan phải luôn tự hỏi mình, sửa mình là quan của triều Lý, dân phải luôn tự hỏi mình, sửa mình là dân của triều Lý”.
-Là một Phật tử, một thiền sư đắc pháp, vua Lý Thánh Tôn thì nổi tiếng nhất là “Ông vua thương dân như con”.
-Chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật, vua Lý Nhân Tôn đã ban chiếu di mệnh đừng làm tổn hại dân rằng: “ Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yêu, đến khi chết đi, lại để cho thần dân mình mặc xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế làm cho lỗi thêm nặng…Việc tang thì sau ba ngày bỏ áo trở nên thôi thương khóc, việc chôn cất phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay bên cạnh tiên đế ”
-Cũng là một thiền sư, vua Lý Cao Tôn đã viết chiêu hối lỗi cùng thần dân:...”Trẫm còn bé đã phải gánh vác việc lớn ở trong cửu trùng sâu thẳm không biết nỗi khổ nhọc của đời sống muôn dân lại nghe lời bọn tiểu nhân mà gây oán với người dưới. Dân đã oán thán thì trẫm còn biết dựa vào ai? Nay trẫm hứa sẽ sửa đổi lỗi lầm cùng trăm họ bắt đầu canh tân. Ai có ruộng đất sản nghiệp bị sung công sẽ được hoàn lại”
-Thiền sư Viên Thông ân cần chỉ rõ cho vua Lý Thần Tôn lẽ trị an với mấy điều cần yếu: “hành động hợp lòng dân khiến dân yêu dân kính. Biết dùng người tốt giúp rập việc nước việc dân – Lấy tu thân làm trọng mà cẩn thận sửa mình – Kính trọng kẻ dưới.”
-Còn Tăng Phó Nguyễn Thường thì mạnh dạn thẳng thắn khuyên can vua Lý Cao tôn chớ mê hát xướng ham chơi bời xa hoa quá độ:
“....Nay dân loạn nước khốn, chúa thượng thì rong chơi vô độ, triều đình rối loạn, dân tâm ly tán. Đó là triệu chứng mất nước”
-Chính đạo Phật thông qua các thiền sư thạc đức, với tinh thần hòa hợp khoan dung rộng rãi mở đường và khuyến khích cho Nho học phát triển bằng cách mở trường Hán học đào nhân tài, xây dựng nền học thuật nước nhà. Chính các lớp Nho sĩ đầu tiên là do các thiền sư đào tạo nên.
-Thiền sư Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông là những đại y sư xây dựng nền y học dân tộc.
Như vậy, Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
b.Về văn hóa: Có thể nói đóng góp to lớn và đặc sắc nhất của đạo Phật cho đất nước là về văn học nghệ thuật.
Nếu dân tộc ta tự hào có được một gia tài văn học quý báu, phong phú và đặc sắc, nhất là văn học cổ, thì một phần rất lớn phát xuất từ cửa chùa do các thiền sư sáng tác mà đặc biệt là văn thơ các thời Lý-Trần vừa đa dạng về thể loại, nhiều về số lượng lại súc tích sâu sắc thâm thúy về nội dung. Nói khác văn học Lý Trần là một mảng lớn của nền văn học Việt Nam.
Có nhà nghiên cứu văn học cho rằng thiền sư PHÁP THUẬN (915-990 ) vời bài thơ QUỐC TỘ và thiền sư Ngô Chân Lưu (Khuông Việt Thái Sư) với bài Từ VƯƠNG LANG QUY là hai nhà thơ mở đầu cho lịch sử văn học thành văn học Việt Nam.
Rất nhiều bài thi kệ phú pháp kệ thị tịch, các thi thoại nhất là thơ thiền thời Lý, Trần vừa thâm trầm triết lý đạo Phật lại biểu thị bản sắc dân tộc lẫn giá trị cao về văn học mãi đến nay vẫn còn truyền tụng như bài “CÀNH MAI”của thiền sư MÃN GIÁC (1052-1096) là một điển hình.
Chữ Nôm, quốc ngữ cổ của Việt Nam qua quá trình hình thành, phát triển cũng lại nhờ công đóng góp to lớn của các thiền sư thời nhà Trần. Nhiều kinh sách tác phẩm bằng chữ Nôm đã được các nhà sư sáng tác góp phần làm giàu thêm cho nền văn hóa nước nhà.
Những sự tích, huyền ký về các vị Bồ Tát, Thánh Tăng, giai thoại hóa đạo của các vị thiền sư đã trở thành những truyền tích nhân gian phổ biến vừa có tính chất tâm linh vừa mang tính giáo dục đạo đức và là nguồn cảm hứng sáng tác đối với các nhà văn thơ. Những bài minh, bài văn khắc trên bia chùa, tháp, chuông, khánh…đều là những sáng tác văn học giá trị và cũng là những chứng tích lịch sử quý báu.
Hầu như bất cứ thôn làng nào trên cả nước đều có NGÔI CHÙA LÀNG, bất kỳ ở nơi núi sông thắng cảnh hang động kỳ tích nào cũng có xây dựng những ngôi chùa mà nghệ thuật kiến trúc độc đáo thể hiện tinh thần dung dị, hòa đồng của đạo Phật kết hợp hài hòa với cảnh trí thiên nhiên đã khiến cho giang sơn vốn đã gấm vóc lại bội phần cẩm tú, huyền ảo thiêng liêng, un đúc thêm sức mạnh tinh thần dân tộc.
Đạo Phật cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển các ngành nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, chạm, đúc đồng, nghề in…Tháp Bảo Thiên, chuông Quy Điền, Đỉnh Phổ Minh, Tượng Quỳnh Lâm đã từng nổi tiếng là An Nam Tứ Đại Khí vào thời nhà Lý. Chùa Một Cột, tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, Tượng Thập Bát La Hán ở chùa Tây Phương hiện còn là những tác phẩm điêu khắc đặc sắc, là niềm tự hào chung của dân tộc.
4. Đạo Phật sẽ tồn tại mãi mãi cùng dân tộc, tiếp tục góp phần xây dựng đất nước tiến lên :
Cùng hòa nhập trong lòng dân tộc gắn bó với lịch sử đất nước ngót 2000 năm, qua bao thăng trầm vinh nhục, khi tươi sáng vẻ vang cũng nhiều lúc suy vi đen tối, với mục đích là phụng đạo hộ quốc của mình, đạo Phật Việt Nam luôn luôn đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết làm mục tiêu mọi hoạt động mà chưa một lần trong lịch sử phản bội đất nước, đi ngược truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bất kỳ thời kỳ nào cũng có những Phật Tử làm tròn nhiệm vụ với đất nước tận tụy với dân cống hiến tài đức bảo vệ dân tộc, xây dựng đất nước theo đúng tinh thần đạo Phật.
Với truyền thống đoàn kết hòa hợp và khát vọng cố hữu là xây dựng đất nước phồn vinh thái bình nhân dân an lạc, sau ngày đất nước hoàn toàn độc lập, hòa bình thống nhất vào năm 1975 Phật giáo Việt Nam cũng đã tiến tới thống nhất cả nước vào năm 1981, thống nhất tổ chức, thống nhất lãnh đạo, thống nhất hành động, thành lập GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, tạo tiền đề cho sự nghiệp hoằng dương đạo Pháp, phụng sự dân tộc, xây dựng đất nước trong hoàn cảnh mới, tiến lên sánh vai cùng nhân loại.
Xét quá khứ nhìn hiện tại, có người đã tin tưởng và xác định rõ ràng mối tương quan khắng khít giữa đạo Phật Việt Nam và dân tộc Việt Nam rằng: “Chắc chắn Phật giáo đã đứng và vẫn còn đứng mãi cho đến hôm nay ở trong lòng dân, ở giữa nền văn hóa dân gian” (1)
Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
+Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp;
+Thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
+Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;
+Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng.
5-Người Phật tử với Đạo pháp và dân tộc:
Là Phật tử mến đạo nhưng còn phải là một người dân yêu nước, tất sẽ tự hào những gì Đạo pháp đã đóng góp cho đất nước và trân trọng những gia tài quí báu tiền nhân để lại cho dân tộc.
1/Đối với Đạo pháp: Người Phật tử không những chỉ học tập giáo lí mà còn tìm hiểu lịch sử Đạo Phật nước nhà, hành động và sống theo giáo lí, xây dựng đức tin chánh tín phù hợp tinh thần trí huệ của Đạo Phật, ra sức tu dưỡng rèn luyện đạo đức, hoàn thiện nhân cách người Phật tử, làm tiền đề cho nhiệm vụ phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội.
-Phụng sự đạo pháp: là Phật tử chân chính thì phải suy tư, làm việc và sống theo gương Đức Phật. Ngoài ra phải biết hoằng dương chánh pháp mà giáo hội là tổ chức kế thừa và trách nhiệm chánh yếu. Tùy sức, tùy hoàn cảnh mà người Phật tử góp sức bảo vệ Đạo pháp, chống lại các hiện tượng vay mượn, xuyên tạc chánh pháp, mê tín dị đoan. Bảo vệ, xây dựng chùa chiền, di tích văn hóa lịch sử, cúng dường Tam bảo, tham gia các hoạt động Phật sự tại địa phương.
2/ Đối với đất nước: Phải tìm hiều lịch sử nước nhà để có lòng tự hào và yêu nước, trung thành với tổ quốc, trân trọng giữ gìn tài sản văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, sống đúng pháp luật, phát triển tài năng, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật, tu dưỡng đạo đức, phát huy nghề nghiệp, liêm khiết và tận tụy với công việc mà xã hội đã phân công để góp phần cùng toàn dân xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc.
III-KẾT LUẬN
Đạo Phật và dân tộc Việt Nam đã có truyền thống gắn bó tương quan mật thiết suốt 2000 năm thăng trầm của lịch sử. Đạo Phật đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đạo Phật luôn tồn tại trong lòng dân tộc Việt Nam và trường tồn cùng sự phát triển của đất nước. Vì vậy người Phật tử chung tay xây dựng đất nước là phụng sự Đạo pháp, và ngược lại, bảo vệ, phát huy Đạo Phật là thể hiện nhiệm vụ của người Phật tử yêu nước.


LICH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỪ THỜI ÐẠI DU NHẬP ÐẾN THỜI LÝ
I. Thời đại Phật Giáo du nhập:
1. Con Đường Phật Giáo Du Nhập Vào Việt Nam: Phật-giáo khởi điểm từ Ấn-Độ rồi truyền rộng ra các nước lân cận, do hai đường thủy và bộ. Về đường bộ thì qua miền Trung-Á như Tây-Tạng, Mông-Cổ, Trung-Hoa, rồi từ Trung-Hoa truyền qua các nước Cao-Ly, Nhật-Bản và Việt-Nam. Về đường thủy thì qua đảo Tích-Lan, Mã-Lai, Nam-Dương và Việt Nam.
2. Địa thế nước Việt-Nam: Nước Việt-Nam ta nằm giữa hai nước Ấn-Độ và Trung-Hoa nên cùng chịu ảnh-huởng văn minh của hai nước ấy. Ngoài ra về phương diện lịch-sử, nước Việt-Nam về thời bấy giờ hoàn toàn do người Tàu cai-trị; nên nước Việt-Nam chịu ảnh-hưởng văn-minh của Trung-Hoa nhiều hơn cả.
3. Thời đại du nhập: Những sử liệu về thời đại Phật giáo du nhập Việt-Nam gồm có:
a. Những thiên truyện ký của các Tăng sĩ Việt Nam viết từ thế kỷ Xlll và XlV có chép: Chính đời nhà Hán thế kỷ thứ 2 và thứ 3 đã có các đạo sĩ ở Bắc như Ngài Ma Ha Kỳ Vực (Marijivakạ), Khương Tăng Hội (K'ang Seng Houei) và Mâu Bác (Méou Pô).
b. Theo truyện Đàm Thuyên Pháp sư có chép: Vào thời Vua Cao Tổ nhà Tùy của Trung Hoa, Việt Nam đã có 20 ngọn bảo tháp và hơn 500 Tăng sĩ, dịch được hơn 15 bộ kinh rồi.
c. Theo sách Pháp Vụ Thực Lục: Vào thế kỷ thứ 3 một người Ấn Độ tên là Kaudra đã qua Việt Nam một lần với Ngài Ma Ha Kỳ Vực để truyền đạo.
d. Theo những sử liệu trên cho chúng ta rõ: Đạo Phật Việt Nam đã có từ đời nhà Hán bên Tàu vào cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3 và những vị truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam là Ngài Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, và Mâu Bác. Trong số 4 vị nầy chỉ có Ngài Mâu Bác là người Tàu, còn 3 vị kia đều là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác là người truyền Phật giáo đầu tiên ở đất Giao Châu vào năm 189 sau Tây lịch. Vậy ta có thể kết luận rằng: Phật giáo du nhập ở nước Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ II.
4. Các môn phái được du nhập: Những tôn phái được ưa chuộng hơn hết cả lúc bấy giờ là Thuyền Tôn (Tôn tu thuyền trực chỉ). Tôn phái nầy lại được truyền vào Việt Nam trước hết, do Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) truyền đến năm 580 và chính Ngài là Sư tổ Thuyền tôn Việt Nam, sau lại có Ngài Pháp Hiền Thuyền sư được kế truyền và thành lập một phái. Đến đời Đường năm 820, Ngài Vô Ngôn Thông ở Tàu sang truyền giáo, lập thành phái Thuyền Tôn thứ 2, rồi kế đến phái Thảo Đường, Tào Động, Lâm Tế lần lượt truyền đến Việt Nam. Như vậy, trước sau chỉ có phái Thuyền Tôn là gây ảnh hưởng mạnh hơn cả.
II. Phật giáo qua các triều đại:
1. Phật giáo đời hậu Lý Nam Đế (571- 602) và đời Bắc thuộc thứ ba (602-939):
Từ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam cho đến đời tiền Lý Nam Đế tính ra trên 300 năm (189 đến 544-548) nhưng vẫn còn nằm trong thời kỳ phôi thai, chưa có gì đáng gọi là thịnh hành lắm. Đến đời hậu Lý Nam Đế (571-602) và Bắc thuộc lần thứ ba (603-939) Phật giáo mới bắt đầu bước vào thời thịnh đạt, vì lúc bấy giờ có Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở Trung Hoa sang (580) đem Thuyền Tôn truyền bá và được người Việt Nam hết sức ái mộ. Do đó ảnh hưởng Phật giáo được lan rộng rất mạnh ở nước Việt Nam lúc bấy giờ. Điều đáng chú ý hơn hết là ba đoàn truyền giáo ở nước Việt Nam trong hai đoàn trước hầu hết là người Tàu, nhưng đoàn thứ ba lại hoàn toàn là 6 vị Pháp sư người Việt, bốn Ngài ở Giao Châu, Vân Ký Thuyền sư, Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung Pháp sư, Huệ Diệm Pháp sư và hai ngưới Ái Châu: Trí Hành Thuyền sư, Đại Thặng Đăng Thuyền sư.
2 Phật giáo đời Đinh (968- 980) và đời tiền Lê (980- 1009):
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình)
Đất nước được thái bình, Đạo Phật có điều kiện thuận lợi để phát triển, Phật giáo có thể là độc tôn vượt hẳn Nho giáo và Lão giáo. Vua Đinh rất sùng mộ Đạo Phật, tất cả văn hóa, triều chánh trong nước phần lớn được hàng Tăng sĩ hướng dẫn, cho nên đạo Phật được phổ biến dễ dàng trong quần chúng, mặc dầu Lão giáo và Nho giáo đã truyền vào từ lâu. Về triều chánh thì có Ngài Ngô Chân Lưu làm đến chức Khuôn Việt Thái sư, ngoài ra có Ngài Trương Ma Ni làm Tăng Lục Đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Châu Uy Nghi để lãnh đạo tăng giới. Đạo Phật lần đầu tiên được triều đình công nhận.
Đến khi nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) lên kế vị, chống lại quân nhà Tống (980). Trong giai đoạn nầy, các Tăng sĩ lại được biệt đãi hơn, vì chính Vua Lê Đại Hành vẫn còn triệu thỉnh các Tăng thống vào triều để bàn hỏi việc nước và việc truyền bá Phật giáo.
Điều đáng chú ý hơn cả là trong khi nước ta đã hòa với nước Tống, Vua Đại Hành liền cho sứ thần qua thỉnh kinh "Đại Tạng" và "Cửu kinh" để đem về truyền bá. Đó là lần cầu kinh thứ nhất ở Việt Nam.
3. Phật-Giáo Đời Nhà Lý (1010-1225):
a. Lý Thái Tổ (1010 - 1028) - Tên thật là Lý Công Uẩn, con nuôi của sư Lý Khánh Vân, ở chùa Cổ-pháp, thọ giáo với Ngài Vạn-Hạnh Thuyền Sư. Sau khi vua Lê-Ngọa Triều mất, Ngài lên kế vị lấy hiệu Thuận Thiên, đóng đô ở thành Thăng Long (Hà-Nội). Lý thái-Tổ là một Phật tử thuần thành nên sau khi lên ngôi Ngài hết sức chú trọng đến việc truyền bá Phật giáo. Ngài đã dựng rất nhiều ngôi chùa và độ rất nhiều Tăng chúng. Điều đáng chú trọng hơn là đến năm thứ 9 (1019) Ngài sai sứ thần qua Tàu thỉnh kinh đem về cất tại kinh viện Đại hưng.
Triều đại nầy có thể nói rằng một triều đại hết sức thái bình. Nói đến Phật giáo thì xưa nay chưa bao giờ có một thời đại nào thịnh đạt như thế. Vả lại các vị Thuyền sư lúc bấy giờ như Ngài Vạn Hạnh Thuyền sư, Đa Bảo Thuyền sư, Sùng Phạm Thuyền sư là những bậc danh Tăng mà nhà Vua rất kính trọng. Cho nên việc truyền giáo của các Ngài rất dễ dàng mau chóng. Những vị danh Tăng nầy đều ở trong hai phái Tỳ-Ni-Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông.
b. Lý Thái Tôn (1028-1054) - Lý Thái Tôn nối ngôi Thái Tổ lấy niên hiệu là Thuận Thành, Ngài cũng là người rất sùng bái đạo Phật. Sau khi đánh dẹp giặc Chiêm ở đất Hoan Châu (Nghệ-An) về, Thái Tôn sắc lập 95 ngôi chùa cử lễ khánh thành hạ chiếu miễn thuế cho dân trong nước một năm. Đến năm 1034 Thái Tôn đổi niên hiệu là Thông Thụy: lúc bấy giờ nước Việt-Nam được nhà Tống ban Đại Tạng Kinh và tự sai sứ rước qua cho ta. Thật là một ảnh hưởng khả quan cho Phật giáo nước nhà, mà cũng là một vinh dự tốt đẹp của triều đình Việt Nam lúc bấy giờ.
Các vị cao Tăng như Ngài Huệ Sinh Thuyền sư, Định Hương Trưởng lão, Thuyền Lão Thuyền sư là những bậc danh đức tu hành và có công truyền bá đạo Phật nhất trong triều đại Lý Thái Tôn nầy.
c. Lý Thánh Tôn (1054-1072): Thánh Tôn nối ngôi Thái Tôn, đổi quốc hiệu là Đại Việt và lấy niên hiệu là Long Thụy Thái Bình. Ngài là một ông Vua rất sùng mộ đạo Phật. Năm Long Thụy thứ 5 (1059) Ngài dựng chùa xây tháp và đúc một quả chuông nặng 12.000 cân đồng, tại làng Bả-Thiên thuộc tỉnh Hà-Nội. Quả chuông ấy hiện nay vẫn còn. Đến năm 1069 phái Thảo Đường lại xuất hiện ở Việt Nam, do Ngài Thảo Đường, đệ tử Ngài Tuyết Đậu Minh Giác bên Tàu truyền sang. Kế đó Lý Thánh Tôn thọ giáo với Ngài. Sau được truyền tâm pháp làm đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Phái Thảo Đường tức là phái Thuyền Tôn thứ 3 ở nước ta vậy.
d. Lý Nhân Tôn (1072-1127): Nhân Tôn nối ngôi Thánh Tôn lên làm Vua, mặc dầu nhà Vua tuổi còn nhỏ nhưng rất thông minh anh dũng. Ngài lại rất hâm mộ đạo Phật, cho nên ngoài công việc triều chánh ra, Ngài còn luôn luôn truyền bá Phật giáo. Vã lại lúc bấy giờ có nhiều vị danh Tăng lỗi lạc như Ngài Viên Chiếu Thuyền Sư soạn quyển Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tân Viên Giác Kinh v.v... Còn Ngài Ngộ Ấn Thuyền Sư thì chuyên môn diễn giảng, do đó Phật giáo rất được quần chúng hưởng mộ và ảnh hưởng lan rộng khắp nơi.
e. Lý Thần Tôn (1128-1138), Lý Anh Tôn (1138-1175), Lý Cao Tôn (1176-1210) và Lý Huệ Tôn (1211-1225): Trong bốn triều đại nầy, Phật giáo vẫn được thịnh đạt, nhưng không có gì được xuất sắc lắm. Có các vị cao Tăng như Ngài Minh Không Thuyền sư và Thông Biện Thuyền sư, thuộc đời Lý Thần Tôn, Ngài Bảo Giám Thuyền sư và Ngài Viên Thông Thuyền sư thuộc đời Lý Anh Tôn, Ngài Trương Tam Tạng Thuyền sư thuộc đời Lý Cao Tôn. Đến đời Lý Huệ Tôn thì vận nước suy đồi, triều đình dấy loạn, dân sự không an. Nhà vua sanh lòng chán nản, nên vào năm Kiến Gia thứ 14 (1224) Ngài truyền ngôi cho con gái là Công Chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng, rồi xuất gia tu ở chùa Chân Giáo, tự xưng là Huệ Quang Đại sư.
Tóm lại, Phật Giáo được thịnh hành nhất ở Việt Nam chính là đời nhà Lý, vì trong 215 năm trời, trải qua 8 đời truyền kế, vua nào cũng sùng tín đạo Phật, lại được rất nhiều vị danh Tăng ra đời tận tâm vì Phật sự, cho nên ảnh hưởng của đạo Phật trong nhân gian được lan rộng và lợi lạc rất nhiều.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Bậc Kiên   

Về Đầu Trang Go down
 
Bậc Kiên
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC :: BẬC KIÊN-
Chuyển đến