Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Ánh Đạo Vàng 4

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Ánh Đạo Vàng 4   Tue 22 Sep 2009, 14:16

ÁNH ĐẠO VÀNG (tt)

9
Tịnh-phạn vương sống qua những
năm buồn vô hạn từ khi Thái tử bỏ cung điện ra đi. Ngài nhớ tiếng, nhớ hình
ngườị con anh dũng mà bây giờ không biết đang phiêu bạt nơi nao.

Còn công chúa Da-du, thì
không có gì khuây khoả nổi! Mất đấng chúa tể của lòng mình, nàng không còn biết
cái vui là gì nữa. Trong cung điện cũ tiếng đàn địch đã im bặt lâu rồi, thế mà
âm thanh còn vang dội lại trong tai người cô phụ, tưới mãi dầu vào ngọn lửa
tiếc thương. Tuy thế lòng nàng vẫn còn ấp ủ chút hy vọng: Thái tử còn sống. Mỗi
khi nghe ai nói đến một kẻ tu hành đang ẩn náu ở một xứ xa nào, nàng liền tâu
với Tịnh-phạn vương cho quân ruỗi ngựa đi tìm. Quân về mình còn lấm bụi phương
xa, quỳ xuống tâu với Tịnh-phạn vương, giữa hai hơi thở:

– Tâu bệ hạ, chúng tôi đã
gặp rất nhiều kẻ tu hành không nhà, không cửa, nhưng về Thái tử Tất-đạt-đa,
viên ngọc quý của thành Ca-tỳ-la-vệ. chúng tôi tìm chẳng được tăm hơi.


Một hôm, sau những ngày đông
buồn bã đã trôi qua, những đọt xoài non đã điểm trắng trên lá xoài xanh, cảnh
vật đã choàng xong chiếc áo xuân mới, nàng Da-du đi dạo quanh hồ. Ở đấy, xưa
kia, thảm nước xanh đã nhiều lần chiếu vẻ đẹp phương phi của Thái tử bên cạnh
vẻ đẹp hiền hậu của nàng. Cũng ở đấy, mặt nước hồ buồn bây giờ chỉ chiếu lẻ một
bóng hình tiều tuỵ của kẻ vọng phu: hai mắt nàng không còn trong sáng như xưa
nữa, vì đã bao lần làm suối cho lệ chảy; vành môi đẹp của nàng hơi trĩu xuống ở
hai bên khoé dấu vết của những đêm cắn cổ tay vào miệng cho tiếng khóc khỏi bật
lên. Làn tóc óng ả dợn sóng của nàng bây giờ bới lại theo kiểu những người quả
phụ. Ngọc vàng không còn quấn quýt bên tay nàng nữa. Áo nàng may bằng vải thô
thường để dùng trong lúc tang chế. Nàng nắm sợi dây lưng nạm ngọc của Thái tử
mà nàng giữ mãi bên mình làm kỷ niệm sau cái đêm hãi hùng, mở đầu cho những
chuỗi ngày sầu hận–cái đêm Thái tử bỏ cung điện ra đi. Gần nàng, một đứa bé độ
9, 10 tuổi, mặt mày tuấn tú đang đuổi theo đàn bồ câu. Ðấy là La-hầu-la, sợi
dây giao nối mối tình cua Thái tử và nàng Da-du.

Trong lúc con nàng đang nô
đùa với đàn chim, nàng tư lự ngồi ngắm mây trôi, như cố tìm trong ấy một vết
tích của người chồng lưu lạc. Nhưng nghe sau lưng có tiếng động, nàng giật mình
xây lại, một người thị nữ quỳ xuống bên cạnh, thưa:

– Thưa lệnh bà! Có hai
người lái buôn ở xứ Hạt-tin-bua (Hastinpour) tên Ðề-vy (Tripourha) và Bà-lỵ
(Bhallouk), ở từ phía Nam
lại. Họ mang theo đủ các loại hàng quý, các thứ chim lạ và ngọc ngà đầy bao;
nhưng có một tin quý nhất: họ đã gặp Thái tử.

Máu chảy rần rần trong
huyết quản công chúa, nàng vội vã đứng dậy, mắt ứa lệ mừng, giọng run run vì
cảm động:

– Con hãy bảo họ vào trước
màn gấm (Tục Ấn Ðộ, những người đàn bà quý phái khi tiếp chuyện với người lạ
phải đứng khuất sau một bức màn), kể chuyện gặp Thái tử cho ta nghe. Nếu thật
như lời họ nói, ta sẽ ban thưởng cho họ bao nhiêu ngọc vàng cũng không tiếc.

Hai người lái buôn được mời
vào trong Cung Vui bước từng bước kính cẩn trên những bậc thềm vàng, đi ngang
qua những phòng rộng nguy nga, giữa hai hàng cung nữ. Họ đến trước màn hoa và
nghe ở trong đưa ra một giọng nói thanh tao và ngân nga như tiếng chuông
đồng:

– Hỡi các người ở phương xa
lại! Phải chăng các người đã gặp Thái tử Tất-đạt-đa.

Ðề vỵ trả lời:
– Thưa lệnh bà, chúng tôi
đã gặp Người cao cả ấy!. Chúng tôi đã quỳ xuống hôn chân Ngài. Ngài bây giờ rực
rỡ danh vang, oai phong hơn một ví đại đế. Ngài đã thành Phật, chinh phục cả
muôn loài vì cái đạo Từ bi mà Ngài đã tìm được dưới gốc bồ-đề. Ngài đi thuyết
pháp từ xứ này sang xứ khác và thu hút sau bước chân Ngài biết bao tâm hồn lung
lạc, như một làn gió hút theo bao nhiêu lá vàng rụng trên đất...

Công chúa sung sướng hỏi
dồn:

– Nhưng cái Ðạo nhiệm mầu
ấy, Ngài làm thế nào để tìm được?

Bà-lỵ thay lời bạn, kể lại
cho công chúa nghe cái đêm giông tố tơi bời mà đức Phật đã chiến đấu và toàn
thắng được bao nhiêu dục vọng nhơ nhớp xấu xa của thế gian đã hiện hình dưới
quyền chỉ huy của Ma vương. Chàng tả cái buổi mai rực rỡ huy hoàng, sau khi
Ngài đã chứng được quả bồ-đề và nỗi do dự của Ngài trước khi đi truyền đạo vì
Ngài nhận thấy chúng sanh mải quay cuồng trong trường danh lợi, đắm say trong
vũng lầy nhục dục, uống lỗi lầm trong muôn suối si mê, chưa đủ trí, đủ sức để
nhận hiểu chân lý cao thâm huyền diệu mà Ngài đã tốn biết bao tâm huyết mới tìm
ra được. Nhưng may thay! Lòng từ bi của Ngài thúc giục Ngài phải cứu chúng sanh
đau khổ. Ngài nhận thấy đấy là bồn phận của Ngài như Ngài đã tự nguyện khi mới
xuất gia. Dầu công cuộc truyền đạo có khó khăn bao nhiêu, Ngài cũng không thể
chối từ để an hưởng một cách ích kỷ Đạo vô thượng mà Ngàí đã vì chúng sanh
nhiều hơn là vì mình, tìm ra được. Vả chăng, trong đám bùn lầy, không phải
không nẩy lên được những chồi sen quí, trong đám người si mê không phải tuyệt
nhiên không có những kẻ tinh anh. Và dầu tinh anh hay mê muội, mỗi người đều có
sẵn một mầm giải thoát. Xét như thế, Ngài quyết định đem Ðạo Ngài ra truyền bá
khắp thế gian.

Thế rồi Ngài vượt núi đi
đến xứ Ba-la-nại (Bénarès), vào trong Vườn Nai, tìm nhóm ông Kiều-trần-như để
thuyết pháp cho họ nghe. Các ông này thấy Ngài đi đến, tỏ vẻ khinh bỉ. Nhưng
khi đến gần, thấy tướng mạo ọai nghi và rực rỡ của Ngài, họ kính cẩn đứng dậy
chào, rồi lặng yên nghe thuyết pháp.

Người hiểu được giáo lý đầu
tiên là ông Kiều- trần-như. Sau ông, bốn người đồng tu là: Ác-bệ, Thập-lịch
Ca-diếp, Ma-ha-nam, Bạc-đề đều khai ngộ được cả. Luôn trong ba tháng, Ngài
thuyết pháp ở Vườn Nai, có một chàng thanh niên tên Ða-xá và 54 người khác
thuộc dòng quí phái xin qui y theo Ngài.

Sáu chục người đệ tử đầu
tiên ấy, sau khi giữ đủ giới luật và được đức Phật cặn kẽ dặn dò, đều được Ngài
thọ ký cho đi truyền đạo khắp nơi. Ngài rời Vườn Nai, đi về phía Nam,
đến xứ ưu-lâu-tần-loa. Ở đấy, Ngài độ cho một vị tổ sư rất thần thông và rất có
thế lực của đạo thờ lửa là ông Ca-diếp, và hai em ông. Rồi Ngài lại đi đến xứ
Ma-kiệt-đà. Vua Tần-bà-sa-la gặp lại Ngài vui mừng khôn xiết, và sau khi đổ
nước hoa vào hai bàn tay Ngài, vua xin cúng cho Ngài vườn Trúc Lâm rất có tiếng
đẹp ở xứ ấy để Ngài dùng làm nơi thuyết pháp. Ở đấy, giáo lý của Ngài rất được
dân gian sùng phục. Chẳng bao lâu, cả xứ Ma-kiệt-đà từ vua cho đến dân đều theo
Ðạo Ngài cả. Số đệ tử mỗi ngày mỗi đông, trong ấy, chín trăm người được đắp y
như Phật và được Ngài cho đi truyền giáo khắp nơi.

– Thưa lệnh bà–Bà-lỵ kết
luận–phương pháp tu hành của Ngài dạy tuy không thể kể xiết được nhưng có thể
tóm tắt trong một câu này mà chúng tôi được nghe Ngài dạy: “Tránh các việc dữ,
làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đấy là đạo của chư Phật.”

Tịnh-phạn vương nghe tin,
tức tốc truyền cho sứ giả đi mời Phật về. Nhưng chín lần, chín đoàn sứ giả ra
đi, chín lần mất tích. Mỗi ngày Tịnh- phạn vương và nàng Da-du lên lầu, đưa tầm
mắt ngóng trông bọn sứ giả. Nhưng xa xa, không thấy có đám bụi mù nào dấy lên
dưới chân những con tuấn mã của bọn sứ giả. Ai có ngờ đâu bọn sứ giả khi đến
Trúc lâm, gặp lúc Phật đang thuyết pháp, những lời ấm áp, êm dịu của Ngài đã
lách vào tâm hồn họ, như một làn hương lẫn trong gió mà vào phổi, như một giọt
sương thắm đượm vào giữa nhuỵ hoa, họ đã say mê mà quên mất nhiệm vụ của họ là
đến mời Phật về. Lần thứ mười, Ưu-đà-di khi vào vườn Trúc lâm, lượm một nắm
bông gòn nhét vào tai, đến bên chân Phật, quỳ xuống thưa một mạch những lời dặn
của Tịnh-phạn vương.


Ðức Như Lai nhận lời ngay.
Ngài bảo giữa đại chúng:

– Ðã lâu ta có ý định về
thăm nhà, vì đấy cũng là một bổn phận của kẻ tu hành. Hỡi các Tỷ kheo, các
người không nên viện một cớ gì để không báo ân cha mẹ. Ta sẽ về thăm phụ hoàng
ta. Ưu-đà-di, người hãy về trước, báo tin ấy cho Ngài hay.

Ưu-đà-di sung sướng sụp lạy
tạ Ngài, rồi nhảy lên mình ngựa phi về cung.

Tin Phật sắp trở về tung ra
trong thành Ca-tỳ-la-vệ như một tràng pháo nổ. Thôi, đã qua rồi những ngày buồn
bã trôi giữa dòng tiếc thương và mong nhớ! Dân trong thành trở lại hoạt động
vui vẻ như thời còn Thái tử, cái lẽ kiêu hãnh của dân gian Mọi người thi nhau
trang hoàng cửa nhà mình để làm vui lòng đấng tôn quý nhất của cả nước. Từ phía
cửa Nam
vào tận trong hoàng cung, đường đều lát toàn cành xoài thơm và tưới trào nước
hoa sứ. Trên bến sông đức Phật sẽ sang ngang, mấy chục cặp voi được trang hoàng
rừc rỡ đã đợi sẵn để đón Ngài về. Bọn ca nhi vũ nữ đã được lệnh đi theo Ngài để
vừa múa hát vừa tung hoa sao cho chân voi Ngài sẽ ngập dưới đường hoa.

Nàng Da-du nóng lòng muốn
gặp Ngài ngay, sai quân khiêng kiệu đưa mình đến gần cửa Nam, nơi Tịnh-phạn
vương đã truyền dựng tịnh xá cho Ngài, và đứng đấy ngóng trông về phía trước.
Và phía trước, bọn Ba-li-a (Paria) sống chui rúc trong những vòm lá ở ngoài
thành, cũng đã dậy từ lúc gà chưa gáy, đợi tiếng trống đầu tiên báo hiệu Ngài
về, hay tiếng voi ré là trèo lên cây, để khỏi làm bẩn mắt đấng Tinh khiết.
Nhưng bầu trời vẫn im lặng trong sự chờ đợi, không vang dội một tiếng trống hay
tiếng voi ré. Họ bắt đầu chán nản, và để khỏi mỏi mắt trông chờ, họ cúi xuống
lượm lá úa rơi trên đường, uốn lại một nhành cây hay chấp thêm một vài cành hoa
vào cột khải hoàn môn.


Giữa lúc ấy, một người chậm
rãi đi đến, đầu cạo trọc mình choàng một chiếc áo cũ, tay nắm một bình bát hình
trái bí. Theo sau có mấy người khác cũng choàng một thứ áo ấy. Nhưng người đi
đầu có vẻ oai nghi lạ kỳ, và trên đường người đi, toả ra một luồng tôn nghiêm
kính cẩn. Người ấy nắm bình bát đưa ra trước cửa mọi nhà: người ta đổ đồ ăn vào
đấy với vẻ sùng bái như khi dâng lễ cúng thần. Nhiều kẻ thấy mình đứng không
vững trên hai chân run, liền sụp quỳ xuống, và cảm thấy rất yên ổn trong dáng
điệu ấy. Khi đến gần cửa Nam,
nàng Da-du từ trong chạy xổ ra, kêu lên: “Ôi Thái tử!” Nàng nghẹn ngào không
nói được nên lời, quỳ xuống ôm lấy chân Phật mà khóc...

Một người đệ tử đi theo
Ngài, bạch:

– Thưa Thế Tôn! Ngài đã dứt
hết dục vọng, tránh tất cả những sự đụng chạm của những bàn tay đàn bà, sao còn
đứng yên để bà Da-du ôm chân Ngài như thế?

Phật trả lời:
– Các người hãy coi chừng
đấy! Ðừng làm tổn thương một tâm hồn đang bị ràng buộc trong tình cảm, vì sự
dửng dưng của các người, khi đã thoát ra ngoài vòng trần luỵ! Các người càng
nhẫn nhục bao nhiêu, các người lại càng được tự do bấy nhiêu...

Xưa kia, mấy vạn năm rồi,
ta là một gã lái buôn tên Ram, ở miền bể phía Nam đối diện với hòn đảo Lan-ca,
nơi có rất nhiều ngọc quý. Vợ ta, nàng Lúc-mích, chính là Da-du bây giờ, cùng
với ta sống ở đấy. Nhà ta nghèo túng, ta phải tính cuộc đi làm ăn xa. Nhưng vợ
ta khóc lóc, xin ta hãy ở nhà, vì nỗi đường xá xa xôi, hiểm trở. Nhưng ta không
muốn ở nhà để nhìn thấy sự nghèo túng của vợ rất yêu quý của ta. Ta đành dứt
tình, vượt biển ra khơi, trải qua bao nhiêu lần sắp chết vì bão tố, ta lặn
xuống đáy bể, mò được một viên ngọc quý hơn tất cả nhũng kho tàng eủa các vua
chúa hiệp lại. Ta lận hòn ngọc vào lưng, dong buồm trở về xứ cũ. Nhưng ở đấy
dân gian đang bị nạn đói kém. Ta đi mấy ngày đường không có một hạt cơm ăn,
nhưng cũng lần mò về được tới nhà. Về nhà ta thấy vợ ta đang nằm bất tỉnh, sắp
chết đói ở ngưỡng cửa vì đã mấy ngày thiếu ăn. Ta liền nắm hòn ngọc chói như
ánh mặt trời, chạy đi từng nhà xin đổi lấy một nắm gạo. Một người láng giềng
chạy ra đưa cho ta một ô gạo và nhận hòn ngọc quý về. Lúc-mích thoát chết nhờ
nắm gạo ấy, sung sướng ứa lệ nói với ta: “Ôi quả thật, tình chàng đối với em
không bờ bến.”

Thuở ấy, để cứu mạng một
người thân, vỗ về một tâm hồn đau khổ ta đã mất hòn ngọc quý. Nhưng bây giờ dầu
ta có cứu bao nhiêu mạng người, có vỗ về bao nhiêu tâm hồn đau khổ, thì viên
ngọc quý–một vạn lần quý hơn viên ngọc xưa–mà ta đã tìm được dưới những làn
sóng sâu hơn, nguy hiểm hơn trước, viên ngọc bây giờ không vì một sự gì có thể
lu mờ mất mát đi được. Cái bé nhỏ của viên ngọc xưa đối với viên ngọc bây giờ
cũng như tổ kiến sánh với hòn núi Mérou; tình thương xưa sánh với lòng Từ bi
của ta bây giờ như một vũng sương đọng trong dấu chân con thỏ sánh với biển
lớn. Một khi tình thương đã vượt ra ngoài sự ràng buộc của dục vọng, thì không
có gì có thể làm cho nó đụe vẩn đi được.

Tịnh-phạn vương ở trong
triều nghe tin con về, đầu cạo trọc, tay nắm bát đi xin những đồ ăn của bọn
cùng dân hạ tiện, thì nổi giận đùng đùng. Ngài bứt râu bạc, ngài khạc xuống đất
ba lần. Ngài truyền thắng ngựa chiến cho ngài ra cừa Nam. Ngựa ngài vụt qua trước mặt
đám dân kinh ngạe, khi họ chưa kịp phủ phục bên đường. Gần đến cửa Nam, ngài
thấy một đám người đen nghịt chen chúc trên đường rộng, mà người đi đầu là
Phật. Ngài đưa mắt quang đãng nhìn cha ở đằng xa phóng ngựa tới với một vẻ hung
hăng như một viên tướng ra trận. Nhưng đến gần, Tịnh-phạn vương bỗng dịu lại
trước cái nhìn hiền từ và tôn kính của người con đứe hạnh. Phật chắp tay vái
chào đứe cha với một dáng điệu nhu thuận mà oai nghi. Tịnh-phạn vương nhìn con,
nhận thấy một vẻ thiêng liêng hiện trên đỉnh trán rộng và một oai lực làm khuất
phục cả mọi người đi theo sau. Ngài cảm biết rằng người đang đứng trước mặt
mình đấy đã xa xôi với mình lắm rồi, không còn giữ lại dấu vết gì của vị hoàng
tử xưa nữa. Tuy vẫn ở trong phạm vi người, vẫn lăn lộn với người, con ngài bây
giờ đã thoát ra ngoài vòng trần tục, đã vượt lên mấy tầng cao trên nhân thế
rồi!

Mặc dầu thế, Tịnh-phạn
vương vẫn làm ra vẻ trách con:

– Có đời nào một vị Thái tử
như Tất-đạt-đa, người sắp nối ngôi ta, trị vì một đại quốc, một vị Thái tử oai
phong như thế mà khi về nước lại ăn mặc tầm thường, đầu cạo trọc, nắm bát đi
xin từng miếng ăn, miếng uống của đám Ba-li-a! Ðáng lẽ ra, con phải trở về giữa
sự oai nghi hùng tráng của một rừng gươm giáo, giữa sự vang rền của tiếng
trống, tiếng chiêng. Con thấy đó, quân lính đang dàn đặc hai bên đường, cả một
kinh thành đang đợi con về để tung hô thiên tuế. Sau chín, mười năm trời con bỏ
cung điện ra đi, để cha con phải nuốt sầu trên ngôi báu, vợ con phải đau khổ
trong Cung Vui, và cả một kinh thành đã im lìm trong không khí tang tóc, cha
tưởng ngày về của con hết sức rực rỡ để bù lại những ngày ảm đạm đã qua. Cha có
ngờ đâu bao nhiêu sự sắp đặt linh đình của cả nước, bao nhiêu dàn bày oai nghi
của cả triều đình chỉ để đón chờ một kẻ đói cơm rách áo! Con ơi! Sao thế hử?

– Thưa phụ vương, đấy là
tục lệ của dòng họ con.

Tịnh-phạn vương dẫy
nẩy:

– Dòng họ con kể từ đức
Ma-ha-sa-ma đến nay đã gần một trăm đời vua, có khi nào có một hành vi lạ lùng
như thế đâu?

– Thưa phụ vương, con không
nói đến cái giòng giống thế gian, nối nhau qua khí huyết, con muốn nói đến dòng
giống của chư Phật quá khứ và vị lai. Xưa và sau này chư Phật làm thế nào, bây
giờ con làm thế ấy. Con chỉ biết giữ gìn cái kho báu vô giá mà các đức Phật đã
truyền lại cho con.

Tịnh-phạn vương ngạc nhiên
nhìn chiếc áo đã ố màu của Phật, hỏi:

– Kho báu gì đâu?
Thế là Phật dịu dàng nắm
tay cha, đi về phía hoàng thành, giữa Tịnh-phạn vương và nàng Da-du. Vừa đi,
Ngài vừa thuyết pháp cho dân chúng đang kính cẩn theo sau Ngài nghe. Với giọng
ấm dịu và trong sáng, Ngài rải rắc trong tâm hồn mọi người nỗi an lành thanh
tịnh. Ngài tung vãi ánh sáng ra khắp nơi, đuổi tan những làn u ám đang đọng
trong tâm trí mọi người.

Tịnh-phạn vương nhìn sững
miệng Ngài, say sưa uống những lời quý hơn vàng ngọc. Và công chúa Da-du đôi
mắt dần dần ráo lệ, mỗi lúc mỗi tươi thêm.


Ðêm ấy, trong cung điện của
Tịnh-phạn vương, không có tiếng đàn tiếng địch, thế mà mọi người nghe như reo
dậy trong lòng mình một điệu nhạc thiêng. Và khi đặt lưng xuống chiếu, dân gian
trong thành Ca-tỳ-la-vệ thấy mở ra trướe mắt mỗi người một con Ðường Vàng sáng
rực, rộng thênh thang, trên ấy những bóng vàng đang nhẹ nhàng tiến
bước...


10

Thành Ca-tỳ-la-vệ rực rỡ một
thời khi Phật còn tại đấy. Nhưng sau khi đã độ cho em là Nan-đà, cho con là
La-hầu-la, cho bà Da-du và nhiều người khác trong họ Thích và ngoài dân gian,
Phật lại từ giã vua Tịnh-phạn đi đến những xứ ở phía Nam. Thành cũ lại trở về với vẻ
tiều tuỵ của cảnh đợi chờ xưa.

Trải bốn mươi lăm năm trời,
từ khi đạo nhiệm mầu bừng sáng dưới cây Bồ-đề cho đến lúc Phật nhập diệt, Ngài
đi như thế, từ xứ này sang xứ khác tung vãi giống Từ bi và gieo mầm đức hạnh ra
cùng xứ Ấn Ðộ bao la. Và trong bốn mươi lăm năm trời ấy, không một năm nào Ngài
không theo đúng những ý định của Ngài trong việc truyền giáo.

Từ tháng tư Ấn Độ, mây dày
bắt đầu đổ thành mưa nặng, gió điên cuồng sổ chạy dưới rừng sâu, cây cối gãy
ngã, đường sá bị nước xoi thành suối thành hồ, sự giao thông từ xứ này sang xứ
khác bị cắt ra từng đoạn trên đường rừng lở lói hoang vu... Trong ba tháng mưa
lụt ấy, Ngài không đi thuyết pháp xa. Ngài lựa một tịnh xá nào gần để làm chỗ
nghỉ chân cùng các đệ tử.

Mỗi ngày, khi chưa tảng
sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi súc miệng, rửa mặt, thay y phục, rồi vào quán
tưởng trong tịnh thất. Ngài dùng ánh sáng trí tuệ của Ngài chiếu cùng vũ trụ
xem xét khắp nơi, rồi lại soi đến căn cơ chúng sanh, nhận biết hạng nào có thể
nghe được và hạng nào chưa có thể nghe được Chân lý thâm diệu của đạo Ngài.
Quán tưởng xong, Ngài hội đệ tử lại, giảng cho họ nghe một hồi, rồi dạy họ phải
suy nghiệm đến những điều Ngài đã giảng trong ngày ấy. Mặt trời sắp đứng bóng
Ngài mới thọ trai.

Trong lúc ấy, trên các
đường đi đến tịnh xá, từ thôn xóm xa cho đến phố phường gần, dân gian lũ lượt
đến đợi Ngài thuyết pháp. Sau khi đã lãnh thọ những lời châu ngọc, họ lại tản
mác ra về, trong tai còn vang dội Pháp âm của đấng Toàn thiện.

Buổi chiều, tắm rửa xong,
Ngài hội các tỷ kheo lại một lần nữa để giải thích tường tận những lời thuyết
pháp buổi sáng mà họ chưa nhận rõ hết. Trời sẩm tối Ngài mới thôi giảng.

Ngài sống mỗi năm ba tháng
trong tịnh xá như thế, đợi đến hết mùa mưa lụt để đi thuyết pháp.

Khi nắng thu hiền lành bắt
đầu trở lại, các đệ tử được lệnh truyền sửa soạn hành lý ra đi. Ý Ngài dự định
sẽ đi về ngả nào thì chẳng mấy chốc đã lan từ làng này sang làng khác, chạy
khắp cả xứ Ấn Ðộ như một làn gió xuân. Thế là dân gian tấp nập mang xẻng cuốc
ra sửa lại những đoạn đường hư nát mà Ngài sẽ đi qua. Họ lấp những đoạn bị nước
xoáy, san phắng những đoạn gồ ghề, phát dọn những nhành cây hoang bổ ra đường.
Và những xứ Ngài không đi ngang, dân gian khoá cửa lại, mang khăn gói lên đường
đi về phía những xứ Ngài sẽ đến thuyết pháp.

Hành lý sửa soạn xong, Ngài
chưa đi vội, đấng Từ bi còn đợi năm ba ngày cho những loài sâu bọ thấy nắng về,
rời khỏi tổ chúng đã làm giữa đường, hoặc dưới cỏ rác trong mấy tháng mưa, để
những bước chân Ngài và các đệ tử khỏi dẫm phải chúng. Vì đoàn đi theo Ngài
không ít, sự dẫm nát có thể nhiều lắm nếu không phòng ngừa trước.

Khi mới ra đi thì chỉ vài
trăm đệ tử, nhưng càng đi đám người tín mộ xin theo càng nhiều. Ðường hẹp không
đủ chứa dòng người tin tưởng kia, họ đi lan ra cả hai bên đường tản mác dưới
bóng rừng sâu. Ðêm đến, họ ngủ trong những nhà lá dựng lên với lòng thành kính
của dân địa phương đối với đấng Tế độ. Nơi nào không có nhà, họ ngủ dưới những
cây xoài sai trái, ngước mắt nhìn bầu trời yên tĩnh của dêm sao. Trong ấy họ
thấy phản chiếu sự yên tĩnh của lòng họ bên cạnh lòng Từ bi.


Gần nửa thế kỷ như thế, hết xứ
này đến xứ nọ, bánh xe Pháp của Ngài in dấu thiện khắp nơi. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông
sang Tây, tất cả xứ Ấn Ðộ rộng lớn, không thiếu một nơi nào Ngài không để chân
đến. Và đến đâu, Ngài cũng được dân gian đổ xô ra đón rước. Họ sung sướng được
xúm xít quanh Ngài như đàn con xúm quanh mẹ ở xa về. Hễ Ngài để chân vào thành
nào, là ở đấy sáng rực lên một ánh sáng lạ; và mắt mọi người, từ đứa bé mới lọt
lòng mẹ cho đến kẻ sắp xuống mồ long lanh đôi niềm hy vọng, trướe sự kết đọng
của Từ bi và Trí tuệ.


Nhưng một hôm, ở tại thành
Ba-la-nại, đức Phật đang ngồi trong tịnh xá Trúc Lâm bỗng thấy các đệ tử đi
khất thực về có vẻ buồn rầu. Phật hỏi nguyên nhân. Họ quỳ xuống bạch:

– Thưa Thế Tôn, mấy ngày
nay chúng con không được dân trong thành trọng đãi như trước nữa, trái lại họ
còn xua đuổi mạt sát chúng con. Hình như có một bọn nào bảo họ rằng: “Ðạo của
Thế Tôn không chính đáng vì đã làm cho vợ xa chồng, cha xa con, gia đình tan
rã.” Và họ bắt giảng rõ tại sao phải có sự chia lìa như thế.

Phật dạy:
– Các ngươi hãy nghe đây!
Xưa ở xứ Mitila có một ông vua tên Ða-nép-ca. Một hôm vua cùng đình thần đi dạo
chơi ở ngoài thành, thấy hai cây xoài mọc cạnh nhau, nhưng một cây rất sai
trái, và một cây cằn cỗi. Vua đến bên cây sai trái, hái một quả. Cáe quan hầu
thấy thế, cũng bắt chước hái theo. Khi đi về, nhìn lại cây xoài mình đã hái,
vua thấy không còn một trái nào cả, và bị gãy nát tơi bời, Ngài nghĩ: “Như thế
đấy! Của quý ở đời là những mồi ngon để dục vọng xâu xé! Ngai vàng của ta đã
tẩm biết bao nhiêu máu đế vương và còn tẩm máu mãi mãi, vì nó là một ngai vàng!
Ta phải đi tìm những của quý mà không ai có thể cướp giật được.”

Ðêm ấy, vua cải trang trốn
ra khỏi thành, định vào rừng làm một kẻ tu ẩn dật. Nhưng hoàng hậu hay tin, vội
đi tìm gặp lại chồng giữa đường. Ða-nép-ca không biết tính sao đành phải để vợ
theo. Một hôm di đến thành phố kia, vua dừng bước lại trước một hiệu làm cung,
hỏi người thợ mộc:

– Tại sao, để xem thử chiếc
tên người đang bào có thẳng hay không, người phải nheo bớt một mắt?

– Bởi vì, người thợ mộc trả
lời, bởi vì con mắt này thường phản trái con mắt kia và làm ta không nhận rõ
những chỗ cong của chiếc tên. Còn người, sao đã làm một kẻ xuất gia cầu đạo, đã
nguyện lìa bỏ tất cả đời phồn hoa, người lại đem theo bên mình một người đàn bà
nữa thế? Người đàn bà đẹp đẽ đi bên cạnh người là con mắt thứ hai, không cho
người nhận rõ đường thẳng để đi đến cõi thiện đấy.

Ða-nép-ca nghe xong, đi một
mạch đến đầu rừng, đứng lại bẻ một nhành cây, đưa trước mặt vợ mà thề rằng:
“Như nhành cây này không bao giờ còn có thể liền lại với thân cây, ta với người
từ đây sẽ xa nhau mãi mãi.” Nói xong Ða-nép-ca chạy biến vào rừng.

Cái ý nghĩa xa đàn bà, bỏ
gia đình là thế. Nhưng ta có bắt tất cả mọi người đều phải xa gia đình đâu? Có
người tu tại gia, mà cũng có người xuất gia. Có khác nhau là, người xuất gia
thì việc tu hành sẽ thuận tiện hơn người tại gia mà thôi. Vả lại trong lúc Ðạo
ta mới thành lập, tất cần nhiều đệ tử xuất gia để truyền giáo; và sau này, khi
ta nháp diệt, cũng cần nhiều Tăng đồ để giữ gìn Chánh pháp. Các người không nên
để tâm đến những lời mắng nhiếc của hạng người si mê. Các người hãy gắng thực hành
cho đúng như những câu trả lời của ông Biệt-na, khi sắp rời ta đề di sang
truyền giáo ở xứ Ro-na-ba-răn-ta. Một hôm ta hỏi ông:

– Dân xứ Ro-na-ba-răn-ta có
tiếng là hung ác nếu ông sang truyền giáo ở bên ấy mà bị họ mắng nhiếc, chửi
rủa, thì ông đối phó cách nào?

Ông trả lời:
– Thưa Thế Tôn, nếu những
người ở xứ ấy chửi rủa mắng nhiếc con, con sẽ tự bảo: “Họ đang còn hiền, vì họ
chỉ nguyền rủa con, chứ không lấy tay đánh con, hay lấy đá ném vào con.”

Ta lại hỏi:
– Thế họ lấy tay đánh ông
hay lấy đá ném ông?

– Thưa Thế Tôn, con sẽ tự
bảo: “Họ còn thương con vì họ không dùng gươm để đâm con.”

– Nếu họ dùng gươm để đâm
ông?

– Thưa Thế Tôn, con sẽ tự
bảo: “Họ còn tốt, vì họ không đâm con đến chết.”

– Nếu họ đâm ông đến
chết?

– Thưa Thế Tôn, con vẫn cảm
ơn họ, vì họ sẽ giải cho con thoát cái thân đau khổ.

Hỡi các tỷ kheo. Biệt-na đã
trả lời ta như thế đấy! Các người hãy lấy hạnh nhẫn nhục làm gương.


***

Tám mươi mùa xuân đã qua từ
ngày Phật xuất thế dưới cây Vô ưu. Bấy giờ Ngài vào hạ ở rừng Sa-la trong xứ
Câu-ly cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Một hôm, Ngài phán bảo ông
A-nan:

– A-nan! Ðạo ta nay đã toàn
vẹn. Như xưa ta đã nguyện, nay ta đã đủ bốn hạng: ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo-ni và nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe Pháp. Còn trong dân gian,
Ðạo ta truyền khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các người mà ra đi. Vả nay ta
cũng đã 80 tuổi rồi. Thân hình ta bây giờ như một cỗ xe đã mòn rã, nếu còn đi
được là nhờ những sợi dây ràng rịt các bộ phận với nhau. Ta sẽ mở dây cho chúng
tan rã. Thân này ta đã mượn làm xe để chở Pháp, nay xe cũng vừa mòn mà Pháp
cũng đã lan khắp, ta còn nấn ná làm gì trong cái thân tiều tuy này nữa? A-nan,
trong ba tháng nữa, ta sẽ nhập Nỉết-bàn.

Nghe Phật dạy, ông A-nan
gieo năm vóc xuống đất, bạch:

– Thưa Thế Tôn, Ngài thường
dạy rằng ai đã giác ngộ thì không thể mất đi được. Nay Thế Tôn là một bậe toàn
trí, toàn năng, sao lại còn phải chịu cái luật tầm thường như thế?

Phật nghiêm nét mặt lại
hỏi:

– A-nan! Người bảo
cái gì mất mà cái gì còn ? Sao người không nhận được cái gì chơn mà cái gì giả
cái gì tồn tại mà cái gì tiêu huỷ? Ta đã nhiều lần dạy rằng đã có đến thì có
đi, có hiệp thì có tan có sanh thì có diệt. A-nan, thân ta không khác thân mọi
người; mà thân mọi người làm sao thoát ra ngoài luật vô thường được? Thân ta là
giả hiệp, nó phải tan rã. Nhưng A-nan! Làm sao người thấy một làn sóng tan,
người lại bảo nước không còn nữa?

Ông A-nan cũng biết như thế
lắm. Nhưng ý nghĩ trong ba tháng nữa, Phật sẽ không còn tại thế để chỉ dạy cho chúng
sanh, làm ông bồn chồn tâm trí. Ông đánh bạo nài xin Phật ở lại một lần nữa:

– Bạch Thế Tôn, xin Ngài
hãy ớ nán lại vì rất nhiều đệ tử còn phải nhờ đến sự chỉ giáo của Thế Tôn để
chứng đạo.

– A-nan ơi! Chính vì muốn
để cho họ mau chứng đạo mà ta lẫn đi. Nếu chửn mẹ cứ mớm mồi mãi cho con, thì
đến bao giờ chim con mới bay được? Gần nửa thế kỷ, họ quanh quẩn bên chân ta,
bây giờ phải đến lúc họ rời ta để tự bước tới như đứa trẻ mới tập đi, phải có
một lúc rời tay mẹ.

Tin Phật sắp vào Niết-bàn
lan dần như một hơi gió thoát từ hang lạnh. Các đệ tử, đàn cừu tản mác trên
cánh đồng ấn Ðộ, lục tục kéo nhau về để cùng đấng Dẫn Ðường chia ly lần
cuối.

Trong mấy tháng ấy tuy thân
hình Ngài đã gầy còm, mệt mỏi, Phật vẫn đi truyền giáo như thường. Nhưng Ngài
không đi xa, chỉ quanh quẩn trong địa hạt xứ Câu-ly. ông A-nan thường xin Ngài
hãy tịnh dưỡng trong những ngày cuối cùng của Ngài. Nhưng Ngài khoát đi mà
dạy:

– Thân ta tuy có kém mạnh
khoẻ, nhưng lòng Từ bi của ta, Trí sáng suốt của ta có kém sút đâu? Ta còn tại
thế ngày nào thì ngày ấy phải là ngày không vô ích.


Một hôm, Phật đi thuyết pháp
ngang một khu rừng, có một người tên là Thuần-đà, làm nghề đốt than đến quỳ
trước Phật:

– Kính lạy Ngài, ở đây làng
mạc không có, mà trời sắp đứng trưa, xin Ngài hãy về nhà con ở gần đây thọ trai
rồi hãy đi. Con nghe Ngài qua đây nên đã đi hái một thứ nấm rất quý để dâng
Ngài, xin Ngài đừng từ chối mà tủi nhục lòng con.

Phật im lặng cùng các đệ tử
đi theo ông Thuần-đà. Ðến nhà, những thức ngon vị lạ đã dọn la liệt trên bàn
dài, ông Thuần-đà lại bưng lên để trước mặt Phật một bát nấm, hơi lên nghi
ngút.

Phật thọ trai xong, phán
với các đệ tử:

– Bát nấm này độc, các
ngươi hãy đem đổ đi không nên ăn.

Ông Thuần-đà kinh hãi, vật
mình lăn khóc bên chân Phật. Phật dạy: “Người không nên than khóe, cũng đừng
hối hận. Phải vui sướng lên, vì người đã được cúng dường bữa cơm cuối cùng cho
ta. Có hai bữa ăn đáng kỷ niệm nhất, lần đầu là của nàng Tu-xà-đa cúng dường ta
trước khi ta thành Ðạo và bữa cơm này, trước khi ta vào Niết bàn.”

Phật từ giã ông Thuần-đà,
cùng các đệ tử ra đi Ðược một đỗi đường, Ngài nghe trong mình khó ở Phật đưa
bình bát và chiếc võng cho A-nan:

– A-nan ! Hãy mang bình bát
dùm ta và tìm hai cây Sa-la ở trên đồi kia, treo võng lên cho ta nằm nghỉ.

Trời chiều. Chúa sáng rút
ánh nắng vàng ở phương Ðông, dồn về phương Tây. Chim bay về tổ cũ. Vài tiếng mẹ
gọi con đồng vọng từ một làng xa. Trên đường rừng tịch mịch chiều hôm, lẻ tẻ
rơi từng tiếng chân chậm chạp.

Phật đến bên cây Sa-la, nằm
xuống võng. Ðầu Ngài trở về hướng Bắc, mình nghiêng về tay phải, hai chân tréo
vào nhau. Trước mặt đấng Sáng suốt chói lọi một mặt trời tròn xoe và đỏ rực.
Hoa trắng lác đác rơi dọc theo mình Ngài trên thảm cỏ xanh. Hương ở đâu bay
lại, thơm ngát cả khu rừng. Ðàn khe và sáo gió, cùng nhau hoà một điệu nhạc,
phò Ngài vào trong Yên nghỉ.

Nhưng đấng Từ bi chưa đi
vội. Ngài sai một Tỷ kheo đi báo tin Ngài sắp nhập diệt cho các đệ tử khác và
dân chúng ở rải rác trong thành Tư- xá vệ hay.


Trong số các người đến kính
viếng, có một ông già thuộc phái Bà-la-môn, tên Tu-bạt-đà-la đến xin ông A-nan
cho được đến gần Ngài hỏi đạo. Ông A-nan không cho, bảo rằng Ngài đang mệt.
Nhưng Tu-bạt-đà-la cứ nài nỉ xin vào. Lời qua tiếng lại, Phật nghe được, liền
bảo ông A-nan cứ để cho vào. Tu-bạt-dà-la đến sụp lạy bên chân Phật, thưa
:

– Lạy đấng Sáng suốt, con
thường nghe đạo Ngài rất thâm diệu, nhưng con cũng thường nghe bọn ngoại đạo
bảo chỉ có đạo của họ là hợp chân lý. Như thế thì con biết tin theo ai?

Phật dịu dàng dạy:
– Người đừng tin theo ai
cả. Người chỉ nên theo lý trí của người. Người hãy đem thuyết “Bát chánh đạo”
của ta chẳng hạn, so sánh với những thuyết của ngoại đạo, rồi người sẽ biết nên
tin bên nào mà bỏ bên nào.

Ông Tu-bạt-đà-la sụp xuống
ôm chân Phật, khóc kể:


– Ôi rộng rãi thay lời nói
của đấng Từ bi! Con chưa từng nghe một đấng truyền giáo nào dạy như Ngài! Nhưng
ôi! Con đến quá chậm, Ngài sắp nhập diệt rồi, con biết nhờ ai để tu tập?

Phật để tay lên đầu ông,
dạy:

– Người hãy yên tâm. Ta sẽ
độ cho người. Còn sự tu tập sẽ có các đệ tử ta chỉ giáo cho.

Ông Tu-bạt-đà-la là người
cuối cùng được đấng Từ bi nhận làm đệ tử khi Ngài còn tại thế.

Các đệ tử những bậc vua
chúa và dân gian đến mỗi lúc mỗi đông. Họ kính cẩn cúi đầu đứng quanh Ngài.
Nhưng bỗng giữa bầu không khí im lặng, nấc lên vài tiếng khóc. Phật dạy:

– Ðừng ai thương tiếc ta
như thế! Hãy bình tĩnh trong buổi chia ly này! Các người ơi! Các người còn nhớ
những lời ta dạy chăng ? Ta thường bảo thân thể bao giờ cũng tan rã, những vật
người đời yêu thương, gìn giữ tất rồi có ngày phải chia cách. Làm sao trên thế
giới chuyển di, lại có vật không thay đổi? Ai tìm thấy lại được hình dáng đã vẽ
trên mặt nước?

Hỡi các tỷ kheo! Ở đây các
người là hạng được nghe rất nhiều giáo pháp của ta, các người phải chứng tỏ sự
hiểu biết của các người bằng những cử chỉ, nhất là giữa lúc này. Bao lâu nay
các người rất gần gũi với ta, trong hành động cũng như trong ý tưởng, vậy bây
giờ không nên vì tình cảm hẹp hòi của các người trong một lúc mà trở thành xa
lạ với ta.

Ðừng ai thương tiếc ta như
thế!

Ngài gọi ông A-nan lại gần
Ngài, đề tay lên đầu ông, vỗ về:

– A-nan ơi! Trong các đệ
tử, ông là người luôn luôn ở bên cạnh ta, và giúp đỡ ta nhiều nhất, ông là đệ
tử rất xứng đáng với ta. Trong việc truyền giáo, công đức của ông không phải
nhỏ. Vậy trước khi nhập diệt, ta có lời cảm ơn ông. Từ đây trên đường đi truyền
giáo, bước chân ta không còn vang dội bên bước chân ông nữa, nhưng đừng vì thế
mà buồn; chúng ta dù có xa nhau cũng chỉ ở hình dáng chứ còn tâm ta vẫn hoà
nhịp với tâm ông trong cái đạo rộng lớn. Ông hãy tu tập để nhận rõ chân tâm,
rồi sẽ gặp ta ở mọi chỗ. Thôi ông hãy đứng dậy!

Phật nhìn ra, hỏi đại
chúng:

– Ở đây có ai không hiểu
hay còn nghi ngờ điều gì về giáo lý của ta thì cứ hỏi, ta sẽ trả lời. Ðừng để
khi ta nhập diệt rồi lại ân hận là không còn ai để giảng giải.

Mọi ngườỉ đều im lặng nhìn
nhau. Phật lại bảo:

– Nếu các người vì sợ làm
mệt ta, hay vì nể ta mà không dám hỏi thẳng thì hãy bàn bạc cùng nhau, khi nào
không thể giải quyết được, ta sẽ giúp cho.

Nhưng đại chúng vẫn im
lặng. Ông A-nan bạch:


– Kính bạch Như Lai! Ðạo
Ngài sáng tỏ như mặt trời. Những lời Ngài dạy cặn kẽ từng gang tấc! Những điều
đáng nói, Ngài đã dạy cho hết cả rồi chúng con không còn điều gì nghi ngại nữa.
Duy, chúng con xin Ngài dạy cho biết sau khi Ngài nhập diệt rồi, chúng con phải
làm những lễ nghi gì để cho xứng với thi hài của một đức Phật?

Phật dạy:
– “Các người đừng bận tâm
đến việe ấy. Các người hãy chuyên tâm đến sự giải thoát của các người. Đấy là
một cách sùng bái ta.


Hỡi những ai vì hoàn cảnh
mà không thể xuất gia, các người hãy luôn luôn nhớ đến đạo ta! Phải tinh tấn
mãi mãi để thoát ra khỏi lưới dục vọng mà chứng Ðạo!

Này, các người phải tự thắp
đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Các người hãy theo Pháp
của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác! Ðừng tìm sự
giải thoát ở một nơi nào khác!

Các người làm như thế là
biết ơn ta, là nhớ tưởng đến ta. Và hỡi các Tỷ kheo! Các người có thêm một bổn
phận là truyền đạo ta, thay ta để đưa đường chỉ lối cho mọi người. Các người
phải tìm hiểu đến cùng tột những nghĩa lý sâu xa, mầu nhiệm của giáo pháp ta để
làm lợi lạc cho chúng sanh! Các người phải luôn luôn vượt lên những trở lực để
mãi mãi truyền thừa Ðạo ta cho đến vô cùng tận.

Nếu các người để cho đạo
Giải thoát của ta suy tàn, ấy là các người mất ta, và các người sẽ làm mất các
người!

Nếu các người vẫn trung
thành với những lời dạy của ta, ấy là các người nhớ ơn ta, ấy là các người tôn
sùng ta. Nếu các người làm cho đạo Từ bi của ta mỗi ngày một thịnh mãn, ấy là
các người gần ta, và ta sẽ luôn ở bên cạnh các người.

Này các Tỷ kheo! Các người
đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý báu. Chỉ
có chân lý của Ðạo ta là bất di bất dịch.

Hãy tinh tấn lên để giải
thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!”



Ngài nhập định, rồi vào
Niết-bàn.

Sao mai vừa mọc. Nhưng trời
đất bỗng tối tăm, mọi vật lặng yên. Sự sống ngừng lại. Chìm lặng, chìm lặng
khắp nơi.

Nhưng lập loè xa xa một ánh
sáng. Rồi hai, rồi ba, rồi năm, rồi mười, rồi một trăm, một ngàn, một vạn, ôi!
rồi hằng sa ánh sáng của những ngọn đuốc soi đường cho những tín đồ đến chậm,
chiếu sáng rực cả khu rừng, cả vòm trời, cả tám hướng, mười phương...

Và trong đêm lặng lẽ trời
khuya, nổi lên, nổi lên dần, rồi ngân cao, ngân cao lên mãi, lời tụng kinh nồng
đượm tín thành của từng ngàn đệ tử, phụ hoạ theo với từng vạn tín đồ. Lời tụng
kinh nồng đượm tín thành vượt lên mấy từng trời, phò đấng Từ bi vào Niết-bàn
huyền diệu...

Và từ đấy cứ lan dần, lan
dần ra mãi...




Viết xong ngày 15 tháng 3 năm
1945 tại Huế.


TÔI QUAN
NIỆM NHƯ THẾ NÀO

VỀ
CUỘC ÐỜI CỦA

ÐỨC
PHẬT THÍCH CA

KHI
VIẾT ÁNH ÐẠO VÀNG


Thay lời
bạt

(Phần
này đã được viết và in vào ánh Ðạo Vàng trong lần ấn hành thứ 12 năm 1990)


Quyển
ánh Ðạo Vàng đã được trích đăng dần trên Tập Văn của Ban Văn hoá Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong quá trình trích đăng qua 5 Tập Văn gần hai
năm, có một số bạn đọc đã gởi thơ hỏi tôi có sửa đổi thêm bớt gì không khi đăng
lại lần này. Có bạn lại cả quyết rằng tôi đã có sửa lại, thậm chí đã viết lại
ánh Ðạo Vàng và khen là lần này tôi viết hay hơn trước. Thật ra tôi không sửa
đổi gì, ngoài một số chữ về chính tả mà các lần xuất bản trước đã in sai, và
thứ tự các chương có đảo lộn để cho thích hợp với nội dung của mỗi Tập Văn.
Chẳng hạn như Tập Văn 1, xuất bản vào dịp lễ Thành Ðạo PL. 2528, thì tôi trích
đăng các chương viết về sự Tìm Ðạo và Chứng Quả của đức Phật; qua lễ Phật Ðản
sanh PL. 2529, thì trích đăng các chương viết về sự ra đời và thời niên thiếu
của Ngài. Và mỗi kỳ trích đăng như vậy, tôi không chia thành từng chương riêng
và không ghi số thứ tự của mỗi chương như trong cuốn ánh Ðạo Vàng đã xuất bản
lâu nay, mà đăng luôn một mạch, chương này tiếp liền chương khác. Có lẽ vì vậy
mà các bạn đọc đã có cảm tưởng như tôi có sửa đổi thêm bớt chăng?

Không
sửa đổi thêm bớt, không có nghĩa là cuốn ánh Ðạo Vàng đã hoàn chỉnh. Một cuốn
sách đã viết từ gần 45 năm trước, đem so sánh với thời đại hôm nay mà văn
chương nghệ thuật nước nhà đã có những bước tiến dài, chắc chắn sẽ lộ rõ những
vụng về, thiếu sót, dư thừa. Nhưng tôi không muốn gọt dũa nó lại, vì tôi nghĩ
dù sao nó cũng đã mang dấu ấn của một giai đoạn viết lách của đời mình, cái dấu
ấn tư duy của một lớp thanh niên trí thức Phật tử trong ấy có tôi, trước thế
chiến thứ hai. Lớp thanh niên ấy phải kể trước tiên là những anh em trong đoàn
“Thanh niên Phật học Ðức Dục” (mà hiện nay có người đã trở thành Hoà thượng,
nhiều người là cán bộ, Ðảng viên Cộng sản, hay đã đi ra nước ngoài, nhưng mỗi
khi ngồi lại với nhau chúng tôi vẫn dễ đồng ý, thông cảm với nhau trên nhiều
vấn đề), những anh em trong đoàn Thanh niên Phật tử. Gia đình Phật hoá phổ, học
sinh trường Khải Ðịnh, trường Ðồng Khánh ở Huế, quê hương của tôi. Chính lớp thanh
niên ấy đã thúc đẩy, khuyến khích tôi viết Ánh Ðạo Vàng. Và khi viết, tôi nhắm
đối tượng độc giả chính là lớp thanh niên ấy. Mỗi khi viết xong một chương, tôi
đem đọc cho anh em đoàn Thanh niên Phật học Ðức Dục nghe và góp ý. Tôi nhớ
chương đầu tiên tôi viết là chương Thái tử Tất-đạt-đa trong đêm khuya trốn ra
khỏi “Cung Vui”, xa lìa gia đình để đi tìm đạo. Tôi viết đoạn này trước, vì
tính bi hùng tráng của nó đã thu hút tôi mãnh liệt. Anh em trong đoàn gợi ý cho
tôi nên đăng trước vào tạp chí Viên âm xuất bản tại Huế, mỗi tháng một kỳ do cố
bác sĩ Lê Đình Thám, một học giả uyên thâm về Phật học làm chủ bút. Ðăng được
mấy số thì một hôm, cụ Thám đưa cho tôi xem bức thơ của một vị Hoà thượng ở Hà
Nội gởi vào phản đối kịch liệt những bài viết của tôi đăng trên tạp chí Viên
âm. Vị này cho rằng tôi phỉ báng đức Phật Thích-ca, đã dung tục hoá Ngài, viết
về Ngài mà như về một người tầm thường nào, cũng yêu đương bi lụy “anh anh, em
em”, sống một đời sống xa hoa trác táng v.v... và v.v... Và cuối cùng, tác giả
bức thư yêu cầu Ban Biên Tập Viên âm không được tiếp tục đăng Ánh Ðạo Vàng nữa.
Tôi đọc xong bức thư, trao lại cho cụ Thám và hỏi:


Bác tính sao? Có đăng tiếp không?

Cụ
Thám nở một nụ cười hiền lành như mọi ngày, nhưng trả lời rất cương
quyết:

– Anh
cứ tiếp tục đăng đi. Các cụ già rồi sẽ qua đời. Anh có thanh niên. Họ không
phản đối anh là được.

Lớp
thanh niên ấy bấy giờ cũng đã, hay sắp trở thành cụ già cả rồi. Và họ vẫn không
phản đối tôi về cách trình bày cuộc đời của đức Phật Thích-ca trong Ánh Ðạo
Vàng. Do đó tôi nghiệm ra rằng: không phải hễ già thì phản đôi mà trẻ thì thích
Ánh Ðạo Vàng. Bằng chứng là trên 40 năm trước cũng có những cụ già thích đọc
Ánh Ðạo Vàng, và bây giờ cũng rất có thể có những thanh niên không thích đọc
nó. Thích hay không thích, phản đối hay tán thành, tôi nghĩ không phải do tuổi
tác, mà do quan niệm của người đọc về sự xuất hiện của đức Phật Thích-ca trong
cõi đời này, về nguồn gốc của Ngài. Nếu họ cho rằng Ngài là một Thiên sứ, một
người của nhà Trời sai xuống để dẫn dất chúng sanh, thì chắc chắn họ sẽ phản
đối tôi, vì tôi đã bỏ mất những huyền thoại như: Hoàng hậu Ma-gia đã sinh Thái
tử Tất-đạt-đa từ hông phải của bà, và Thái tử khi mới lọt lòng mẹ, đã đứng dậy
đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà tuyên bố: “Trên
trời, dưới trời, chỉ có Ta là đấng tôn kính nhất.” Tuyên bố xong, Thái tử mới
nằm xuống và trở thành một hài nhi như bao nhiêu hài nhi khác ở trên đời này!

Nhưng
có một số chi tiết thuộc loại huyền thoại, tôi còn giữ lại, vì thấy chúng không
làm hại gì cho nội dung tác phẩm, mà lại phù hợp với tâm lý người thời ấy, như
chuyện Hoàng hậu Ma-gia khi thụ thai, “nằm mộng thấy một con bạch tượng sáu ngà
đứng trên một ngôi sao, có sáu sắc chói ngời, vượt qua trời cao và luồn vào
hông phải Hoàng hậu” (Ánh Ðạo Vàng). Ðây chỉ là một giấc mộng. Và một Hoàng
hậu, sống trong bối cảnh đầy rẫy thần thánh của Bà-la-môn giáo, đang mơ ước có
một hoàng tử anh linh xuất chúng, nên nằm mộng thấy như vậy, cũng không phải là
chuyện không thể chấp nhận được. Hay trong câu chuyện của ông già kể lại cho
đạo sĩ A-tư-đà nghe về đám rước đón Hoàng hậu Ma-gia và Thái tử sơ sanh từ vườn
Lâm-tỳ-ni về hoàng cung thành Ca- tỳ la-vệ, có câu: “Trong đám rước người ta
bảo có lẫn lộn những thiên thần giả người trần tục, vì đây không phải là cái
vui riêng của cõi thể mà chính là cái vui chung cho cả mấy tầng trời” (Ánh Ðạo
Vàng).

Ông
già kể là: “Người ta bảo... (mà có lẽ ông ta cũng tin như vậy) là trong đám
rước có những thiên thân giả người trần tục” thì ai mà nhận ra? Chỉ có tin hay
không tin thôi. Trước đây 25 thế kỷ, xã hội Ấn Ðộ chịu ảnh hưởng sâu xa của
Bà-la-môn giáo, có nhiều người tin như vậy, cũng không có gì là lạ. Lạ chăng là
trong thế giới khoa học ngày nay vẫn có người tin rằng Thánh, Thần, Người, Trời
đang sống chung lộn với nhau. Cái tâm lý ấy có ảnh hưởng sâu xa đến một số các
nhà viết về lịch sử đức Phật trong quá khứ, và cả trong ngày nay. Họ đã thần
thánh hoá Ngài, xem Ngài như một Thiên sứ, Thiên thần từ cõi Trời giáng xuống
và mọi sự việc trong đời Ngài đã được an bài từ trời cao. Trong khi ấy thì đức
Thích-ca đã tuyên bố một cách dứt khoát với nàng Tu-xà-đa, khi nàng tưởng Ngài
là một Thần núi đã phù hộ cho nàng sanh con trai, nên đến cúng dường Ngài để tạ
ơn: “... Ta không phải là một vị thần nào cả. Ta chỉ là một người như mọi người
khác. Xưa kia Ta là một Thái tử. Bây giờ Ta chỉ là một kẻ không nhà, ròng rã
sáu năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng sanh...” (Ánh Ðạo
Vàng).


lẽ những sử gia nói trên nghĩ rằng phải thiêng liêng hoá Ngài, gắn cho Ngài cái
nguồn gốc của nhà Trời hay một thế lực huyền bí nào, thì người đời mới tôn
kính, sùng bái Ngài, nhưng thật ra là đã làm giảm giá trị đích thựe của Ngài.
Ðức Phật đâu có muốn như vậy, Ngài bài bác cái ý thức về một Thượng đế sáng
tạo, an bài mọi sự việc trong trời đất. Ngài đề cao địa vị của con người, bảo
rằng đó là địa vị có đủ thuận duyên để cho con người tiến xa nhất.


Ngài đã lấy chính cuộc đời mình ra để chứng minh điều đó. Ngài cũng đã trải qua
mọi giai đoạn sanh, lão, bệnh, tử như mọi người. Ngài cũng có cha mẹ, vợ con,
bạn bè thân thích như mọi người. Ngài cũng đã có lúc đắm chìm trong xa hoa truỵ
lạc của một cuộc sống đế vương khác. Có khác chăng là Ngài đã thoát ra khỏi
cuộc sống dục lạc ấy trong khi các đế vương khác đã chết chìm trong ấy. Và cuộc
thoát ly này không do một động lực nào từ bên ngoài, “bên trên” thúc đẩy hỗ
trợ, mà chính là do lý trí và tình thương rộng lớn của Ngài thúc đẩy Ngài. Cuộc
trốn thoát khỏi “ngục vàng” giữa đêm khuya ấy, tuy không có một ai hay biết,
ngoài Xa-nặc, người giữ ngựa, để cản ngăn Ngài, nhưng không phải đã diễn ra một
cách trót lọt dễ dàng. Ngài đã chiến đấu rất quyết liệt với chính mình, với
tình yêu thương đối với cha già, vợ trẻ, con thơ, với bạn bè, người hầu hạ, đã
bao năm chung sống với mình.

“Ngài
quỳ một chân, cúi đầu xuống để trán lên giường. Công chúa đang thiêm thiếp ngủ,
trên đôi mi cong dài còn đọng lại hai viên lệ ngọc. Ngài từ từ đứng dậy, cung
kính đi quanh giường ba vòng, hai tay chắp ngang ngực, miệng lẩm bẩm: “Từ nay
không bao giờ ta còn nằm trên giường này nữa. Ba lần Ngài bước ra, ba lần Ngài
trở lại. Lần sau cùng, với vẻ cương quyết, Ngài phủ vạt áo lên đầu, vén rèm
bước ra” (Ánh Ðạo Vàng).


lẽ những đoạn văn như vậy đã làm cho tác giả bức thư mà tôi đã nói ở trên phản
đối, cho rằng tôi đã “uỷ mị hoá” đức Phật, làm mất cả những đức tánh đại hùng,
đại lực, đại từ bi của một vị Phật. Nhưng tôi nghĩ, trước khi thành Phật, Thái
tử Tất-đạt-đa vẫn là một “con người”–tất nhiên không tầm thường như chúng
ta–nhưng vẫn là một con người có lý trí và tình cảm, cũng thương yêu gia đình
như chúng ta, nhưng không vì tình yêu gia đình mà quên tình yêu đồng bào, đồng
loại, trái lại đã rộng mở tình yêu gia đình nhỏ hẹp, để nó hoà nhập vào tình
yêu rộng lớn đối với nhân loại, chúng sanh, như khai thông dòng nước của sông
ngòi để nó hoà nhập vào biển cả. Nếu Thái tử Tất-đạt-đa khi ra đi mà vẫn “phớt
tỉnh”, không chút bận lòng đối với người thân trong gia đình, thì đó mới là một
chuyện không bình thường, làm chúng ta đánh một dấu hỏi lớn: “Nếu không yêu
thương những người thân thiết trong gia đình, thì làm sao yêu thương được đồng
bào, đồng loại?” Cái đại hùng, đại lực, đại từ bi của Thái tử Tất-đạt-đa chính
là đã thoát ra khỏi cái bả vinh hoa phú quý, đã chiến thắng được tình yêu nhỏ
bé nhưng mãnh liệt của gia đình, buộc nó phải hy sinh cho một tình yêu rộng lớn
hơn, cho một lý tưởng cao cả hơn: lý tưởng cứu đời. Chúng ta hãy nghe Ngài nói:
“Hỡi nhân loại đang quằn quại đau thương, hỡi cõi đời sầu khổ! Vì các người mà
ta bỏ tuổi măng tơ, bỏ ngôi báu, bỏ những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay
bám víu cửa người vợ hiền, cắt ngang tình yêu mãnh liệt của Phụ vương và xa
lánh đứa con thơ đang nằm trong bụng mẹ. Hỡi Phụ hoàng, hiền thê, bào nhi và xã
tắc! Xin hãy gắng chịu đựng sự chia ly cho đến ngày tôi tìm ra Ðạo.” (Ánh Đạo
Vàng).


Thoát
khỏi “ngục vàng”, Thái tử Tất-đạt-đa đi vào rừng sâu, tìm thầy học đạo, Ngài tu
“theo lối khổ hạnh.” Trước kia trong “Cung Vui”, Ngài cung dưỡng thân xác bao
nhiêu, thì giờ đây Ngài lại hành hạ nó bấy nhiêu, Ngài đã nhịn đói, nhịn khát
nằm gai, nếm mật, hành hạ thân xác cho đến kiệt quệ. Hãy nghe Ngài kể lại: “Vì
Ta ăn quá ít, tay chân Ta đã trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây khô
héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta
ăn quá ít, xương sống của Ta phô bày giống như một chuỗi hạt bóng. Vì Ta ăn quá
ít, xương sườn của Ta gầy mòn giống như rui mè của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn
quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu trong lỗ con mắt, giống như ánh
nước long lanh nằm sâu trong một giếng nước thâm sâu...” (Trung Bộ Kinh I, tr.
80).

Thế
rồi một hôm, một đoàn ca vũ đi làm lễ ngang qua khu rừng Ngài tu. Ngài nghe
văng vẳng tiếng hát của mấy ca nhi đưa lại:

“Lên
cho chúng tôi một dây đàn đừng quá caọ cũ
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Ánh Đạo Vàng 4
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC :: CÁC MẤU CHUYỆN ĐẠO-
Chuyển đến