Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Ánh Đạo Vàng 3

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Ánh Đạo Vàng 3   Tue 22 Sep 2009, 14:15

ÁNH ĐẠO VÀNG (TT)




7

Từng năm qua, từng năm qua,
phong sương phủ dầy một lớp trên da người vương giả. Chiếc gậy của kẻ tầm đạo
đã mòn một khúc trên đá sỏi đường rừng. Nghe ở đâu có một đấng tu hành đắc đạo
là Ngài tìm tới. A-la-già, Ca-lan... đều biết mặt người xuất thế. Nhưng đến
đâu, Ngài cũng thấy đạo của họ còn thấp kém, hẹp hòi, không đủ làm cho Ngài
thoả mãn.

Sau cùng, không tìm đâu
thấy cái đạo Giải thoát như ý Ngài muốn, Ngài nghĩ: “Cái đạo ấy có lẽ tự ta tìm
thấy trong ta mà thôi”. Từ đấy Ngài không đi hỏi đạo đâu khác hơn là tự hỏi trí
tuệ sáng suốt, tinh anh của Ngài.


Xứ Phật-đà-gia-da có một dải
rừng gọi là Ưu-lâu tần-loa, cây cỏ sum suê, đường đi hiểm trở, đức Thích-ca đến
đấy, đêm ngày nghiền ngẫm theo đạo vô thượng của Ngài, quên ăn, quên ngủ, lấy
tuyết sương làm màn, cỏ hoa làm chiếu.

Mỗi ngày từ đứng bóng, Ngài
bắt đầu tham thiền. Ngài ngồi xếp bằng tròn, mình thẳng, yên lặng như một tượng
đá. Thỉnh thoảng, một con sóc nhảy lên vế Ngài, vài con chim nhỏ, đến đậu trên
miệng bình bát để bên cạnh Ngài, chúi mỏ xuống mổ những hạt cơm Ngài để dành
cho chúng. Ngài ngồi như thế, không quan tâm đến chung quanh, điềm nhiên, mặc
cho gió nực luồn lách trong lá, những nhành cây rên răng rắc dưới ngọn nắng
thiêu.


Rồi mặt trời dần lặn, đỏ rực
một phía rừng; rồi đêm xuống, sao chong đèn bạc cho giấc ngủ được êm lành. Ngài
vẫn ngồi yên, phân dần những mối manh rối beng của tư tưởng, giữa những hình ma
bóng chết, giữa những vùng u tịch của đêm rừng mà thỉnh thoảng tiếng gầm thét
của bọn ác thú, đang cấu xé nhau trong bóng tối làm tăng thêm hãi hùng ghê
rợn.

Đến quá nửa đêm, Ngài mới
đặt lưng xuống ngủ để rồi lại trỗi dậy trước ánh bình minh. Ngài đến ngồi bên
sườn núi, nhìn xuống cảnh đời xa xa đang ngủ dưới chân Ngài, duỗi mình trên
những cánh đồng bao la còn đắm chìm trong bóng tối. Thế rồi trời sáng dần... Từ
chân mây xa đưa lại vài luồng gió mai phẩy nhẹ, như hơi thở của mặt trời sắp
lên. Bóng sao mai mờ dần trong ánh sáng, vạn vật trỗi dậy với mặt trời hồng.
Sắc màu tươi thắm lại. Tiếng chim vui hoà lẫn trong cành. Ngài chứng kiến mỗi buổi
bình minh sự trở về của ánh sáng, và liên tưởng đến một buổi mai kia, khi ánh
sáng của đạo Ngài cùng bừng chiếu với ánh mặt trời, thì ôi! Cuộc đời sẽ vui
thêm biết mấy!


Tắm rửa xong, Ngài lần theo
đường dê đi xuống núi khất thực. Bình bát mang bên mình, Ngài dừng bước trước
mọi nhà với vẻ uy nghi của một người sắp sáng đạo. Các bà mẹ vội bảo con đem
sữa bánh ra dâng. Ngài nhận lãnh lòng sốt sắng của mọi người với một nụ cười
hiền trên môi, hay một lời cảm ơn rất êm dịu. Những cô thiếu nữ nhìn Ngài với
những cặp mắt đen nháy, ngạc nhiên khi thấy người trai trong mộng hiển hiện ở
hình Ngài. Lũ trẻ chạy nâng áo Ngài lên, đặt môi xuống đấy, tỏ hết lòng kính
mến và sùng bái, như đối với một vị thần hộ mệnh.


Ngài sống từng năm như thế.
Nhưng nhiều lúc say mê trong việc nhập định tham thiền, Ngài ngồi luôn từ trưa
này cho đến trưa kia; khi sực nhớ đến bình bát thì chỉ thấy một bình không! Giờ
khất thực đã qua, Ngài phải đi kiếm trái cây ăn qua loa cho đỡ đói. Lòng khao
khát tìm cho mau ra ánh sáng, sự chuyện chú của tinh thần, những đêm quên ngủ,
những ngày quên ăn, và nắng lửa, và gió băng, và bao nhiêu nhọc nhằn khác làm
cho thân hình Ngài mỗi ngày mỗi tiều tuỵ sức lực mỗi ngày mỗi mòn yếu, những
tướng tốt của Ngài lu mờ dần... Rồi một buổi trưa, Ngài nằm lịm trên mặt đất,
mê man không còn biết gì nữa.

Một người chăn cừu đi qua,
thấy Ngài nằm bất tỉnh trên vũng nắng vàng cháy, liền bẻ một nhánh cây che cho
Ngài, rồi lấy sữa đựng trong bao da đổ vào miệng Ngài. Ngài tỉnh dậy, sắc mặt
hồng hào, tươi thắm như xưa, những tướng tốt hiện rõ như trước. Người chăn cừu
tưởng gặp thần núi, sụp xuống lạy, rồi đứng lùi lại rất xa. Ngài bảo đến gần,
rót cho Ngài một chén sữa. Nhưng người đó vẫn đứng xa thưa lại:

– Kính lạy Ngài, tôi không
thể đến gần Ngài vì tôi là một đứa Ba-li-a; sự gần gũi của tôi sẽ làm Ngài mất
tinh khiết.

Ðức Thích-ca dịu dàng
bảo:

Tình thương và sự nhu cầu
là những dây liên hiệp để đoàn kết mọi người. Không có giai cấp trong dòng máu
cùng đỏ như nhau, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi
mới sanh ra không phải có sẵn dấu Ti-ca trên trán , không đeo sẵn dây chuyền
trong cổ (những người thuộc dòng quý phái Ấn Ðộ đều có dấu ấn Ti-ca giữa hai
chân mày và mang dây chuyền ở cổ). Trước toà án nhân quả, mỗi người đều phải trả
đúng giá những nghiệp mình làm. Người hãy cho ta uống đi, không can gì mà
sợ.

Người chăn cừu sung sướng
đến bên Ngài, rót sữa vào chén, dâng Ngài uống.


Một buổi mai, một đoàn ca vũ
đến làm lễ ở một đền nào, đi ngang qua rừng Ngài tu. Họ vui vẻ đổ xuống đồi,
chạy loanh quanh theo con đường mòn đỏ sỏi. Những khăn quàng dài và rộng bay
lui ra sau, chập chờn như những cánh bướm. Những chuỗi lục đạc đồng quấn trong
chân thon, những chiếc vòng bạc đeo trong tay hồng, cùng nhau rung lên những
tiếng đồng và tiếng bạc. Họ hát như sau:


“Lên cho chúng tôi một dây đàn
đừng quá cao cũng đừng quá thấp, chúng tôi sẽ nhảy theo tiếng đàn và tim mọi
người sẽ nhảy theo chân chúng tôi.

Dây đàn quá căng sẽ đứt và
nhạc sẽ câm.

Dây đàn quá chùng nhạc sẽ
không lên tiếng.

Lên cho chúng tôi một dây
đàn đừng quá cao cũng đừng quá thấp!”


Tiếng hát vô tư của mấy nàng ca
nhi không ngờ đã lọt vào tai Người tầm đạo. Ngài ngước đầu lên nhìn. Bóng dáng
hoa hoè của họ thấp thoáng hiện giữa những khoảng cây thưa. Tiếng hát của họ
mỗi lúc mỗi tan dần trong gió. Ngài mỉm cười, tự nhủ: “Không ngờ các người ấy
cũng có được nhiều ý tưởng hay. Ừ, có lẽ trong việc tìm điệu nhạc cứu thế, ta
đã lên quá cao dây đàn, không khéo nó sẽ đứt mất trong khi ta đang cần đến nó.
Ta phải bồi bổ lại thân thể mới được.”


Ở bên bờ sông Ni-liên-thuyền
gần khóm rừng Ngài tu có một làng lấy tên người điền chủ giàu nhất làng:
Xờ-na-ni (Senani). Chàng ở đấy với vợ, nàng Tu-xà-đa (Soujata), hiền lành như
bồ câu và đức hạnh như thánh nữ. Nàng sống những ngày êm ả bên cạnh chồng, nuôi
một ước vọng tha thiết : có con trai.

Nàng đã nhiều lần khấn vái
nữ thần Lúc-mích (Nữ thần thường phò hộ cho dân gian được giàu có, phồn vinh)
và những đêm trăng, nàng thường đội một khay hoa quả đến bên tượng Lanh-gam
(tượng đá hình tròn và dài, tượng trưng cho sự sanh sản) đi quanh chín vòng để
cầu mong sanh được một đứa bé. Nàng nguyện sẽ đem dâng rất nhiều lễ vật, nếu
điều mong ước của nàng được thực hiện. Nàng đã được như nguyện. Sau mấy tháng
cầu xin, nàng thụ thai và sinh được một trai. Con nàng bây giờ đã được ba tuổi.
Một hôm, nàng bế con, đội một khay hoa quả và một bình nê-hồ vào rừng tạ thần
núi.

Nàng sai con thị tỳ Ra-đa
(Radha) vào trước trong rừng, sửa soạn một nơi để làm lễ. Nhưng một chốc, Ra-đa
chạy ra, hớn hở báo với nàng:

– Cô ơi! Thần núi hiện ra ở
dưới gốc cây kia; Người đang ngồi xếp bằng, hai tay để trên hai vế, mặt phương
phi lắm cô ạ. Thật phúc đức cho chúng ta lắm, vì mấy khi mà được Ngài hiện ra
như thế.

Nàng Tu-xà-đa đi đến,
kính cẩn và run rẩy sụp xuống lạy, úp mặt sát đất, khấn:

– Lạy Ngài cao cả đã ban
phước cho chúng con, xin Ngài hãy nhận lễ mọn này tự tay con làm lấy với tất cả
lòng thành kính và biết ơn của con.

Lạy xong, nàng đến đổ trên
tay đứe Thích-ca một thứ nước hoa đựng trong bình thuỷ tinh và để bình bát đựng
nê-hồ trước mặt Ngài. Ðức Thích-ca lặng lẽ ngồi thọ trai, trong lúc người thiếu
phụ, lòng tràn sung sướng, đứng hầu bên cạnh. Thọ trai xong, Ngài nghe trong
mình tỉnh táo lạ thường. Sức lực trở lại trong Ngài; nguồn sống chạy rần rần
trong huyết quản. Ngài cảm nghe như những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn chỉ
là một giấc mê mà bát nê-hồ đã đuổi tan trong chốc lát. Trí não Ngài trở nên
sáng suốt như gương, nhẹ nhàng như có cánh, mạnh mẽ như Hy-mã-lạp-sơn.

Nàng Tu-xà-đa nâng đứa bé
trên tay, nhỏ nhẹ thưa:

– Thưa Ngài, chẳng hay cái
lễ mọn của con có làm vui lòng Ngài chăng?

Ðức Thích-ca không trả lời
thẳng câu của thiếu phụ, hỏi lại:

– Người đã cúng dường cho
ta thứ gì mà ngon lành đến thế?

Người thiếu phụ, vẻ hân hoan
lộ ra trong đôi mắt sáng, quỳ xuống bên Ngài kể lể:

– Hỡi Lượng cao cả đã ban
ân cho con! Con lấy sữa của 25 con bò cái nuôi 12 con bò trắng, lấy sữa của 12
con bò này nuôi 6 con bò mập mạp nhất trong chuồng. Con lấy sữa những con bò
này đổ vào bình bạc nấu với thứ gạo tốt nhất mà con đã chọn lựa rất công phu
trong những thứ gạo tốt. Con lại cho thêm vào bình bạc những thứ lá thơm, hoa
quý tự tay con hái lấy trong vườn. Ôi! Nhưng bao nhiêu lòng thành kính, bao
nhiêu công phu của con, con biết không làm sao sánh được trong muôn một lượng
cả của Ngài. Ðây đứa bé, hòn ngọc, lẽ sống mà Ngài đã ban cho gia đình
con!

Nàng duỗi hai cánh tay, đưa
đứa bé ra phía trước. Ngài vén mảnh lưới hồng che trên mặt đứa bé, để bàn tay
cứu thế trên trán nó và nói với người mẹ:

– Ta mong cho hạnh phúc của
người và gia đình người được dài lâu. Ta mong cho gánh đời của con người sau
này sẽ không đè nặng trên vai nó. Ta không phải là một vị thần nào cả. Ta chỉ
là một người như mọi người khác. Xưa kia ta là một Thái tử. Bây giờ ta chỉ là
một kẻ không nhà, ròng rã trong 6 năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng
sanh đang sống trong bóng tối mà họ không hay. Ta tin sẽ tìm ra ánh sáng ấy, vì
nhiều lúc ta thấy nó thoáng hiện ra trước mắt ta. Nhưng ta không đón giữ nó lại
được, có lẽ vì sức lực ta đã mòn mỏi. Hôm nay ta nhờ bát cháo sữa của người mà
được mạnh khoẻ như xưa, công ơn ấy ta biết lấy gì đền đáp lại cho người?

Nàng Tu-xà-đa thoái
thác:

– Ôi! Lòng con là một đoá
hoa lan nhỏ bé, chỉ vài giọt sương mai là đã tươi thắm rồi. Con không mong ước
tham cầu gì nữa. Ðời con êm trôi giữa ánh sáng dịu dàng của gia đình: chồng
con, mạnh mẽ như một cây đại thọ, con con, nụ cười tươi sáng như hoa xuân, con
không còn ước mong gì khác. Con sống không đòi hỏi cũng không từ chối: thản
nhiên nhận lấy mọi việc không may xảy đến cho con, không oán trách cũng không
tránh trút. Nhưng bao giờ con cũng tin chắc rằng những điều xảy đến ngày mai sẽ
tốt đẹp hơn ngày hôm nay, vì như con thường thấy, những việc ác gây hoạ, cũng
như những việc thiện gây phúc. Một hạt lúa giống tốt sẽ mang một chuỗi hạt
vàng. Luật sống của con chỉ tóm tắt trong hai điều này: bớt dục vọng và thêm
tình thương.

Ðức Thích-ca mỉm cười phán
bảo:

– Người dạy những bài học
rất đích đáng cho những bậc thầy của người. Sự hiểu biết của người không cần
kinh sách. Người đi trúng đường không cần ai chỉ bảo như con bồ câu bay trúng
hướng một cách tự nhiên. Nhưng trong nhân loại, đếm được mấy người hiểu và sống
như thế? Và biết bao người cần phải có kẻ chỉ dẫn! Chính vì thế mà ta đi tìm
đạo. Thôi người hãy về đi. Ta chúc người làm tròn phận sự làm mẹ và làm vợ. Còn
ta, ta sẽ làm tròn phận sự của kẻ đi tìm phương giải thoát cho nhân loại.

Nàng Tu-xà-đa cáo từ Ngài,
rồi nhẹ nhàng đi ra khỏi rừng.


Ðức Thích-ca đứng dậy, đến tắm ở
bên bờ sông Ni-liên-thuyền. Tắm xong, Ngài nghe trong mình khoan khoái lạ
thường. Ngài bước từng bước chắc chắn đến phía cây bồ-đề, cây bồ-đề cao to nhất
trong những cây rừng ở thế giới, có từng lớp mái lá xanh, từng nhành duỗi rộng,
có những rễ phụ chôn xuống đất như những hàng cột lớn. Cây bồ-đề mạnh mẽ và
vững chắc mà thời gian không thể tàn phá, gió mưa chỉ làm tốt tươi thêm.

Ðức Thích-ca đến đấy, và
mọi vật cảm thấy trước một điềm lành, hội nhau mừng rỡ. Gió đưa ngào ngạt từng
loạt hương sen mọc bên bờ sông Ni-liên-thuyền. Từng đàn bướm vàng bay; từng
hồi, chim chuyền tin mừng cho nhau qua kẻ lá. Và Ðấng-sắp-giải-thoát nghe vang
lừng một điệu hát ở mấy từng không:

“Hỡi người con rất anh linh
của vũ trụ, đấng vương giả, mà xa hoa không thể ràng buộc, muôn ngàn dục vọng
không thể làm mù quáng! Ngài đã đem ý chí mạnh mẽ như thác đổ, vững chắc như
núi đồi, để thắng vượt những nỗi ràng rịt của xác thịt và nhất là tình cảm.
Ngài đã đem trí tuệ sáng như mặt trời để tìm con đường giải thoát. Ngài sắp đến
đích!

Nhanh lên! Còn phải thắng
trong một cuộc chiến đấu cuối cùng nữa, và công đức của Ngài sẽ trọn vẹn! Nhanh
lên! Bóng tối từ muôn vạn đời của trời đất đang đợi Ngài rọi ánh sáng vào
đấy!”


Ðức Thích-ca đến ngồi kiết-già
cạnh gốc bồ-đề tự bảo: “Dù máu ta có khô, xương ta có mục, ta cũng không rời
khỏi chỗ này, nếu ta chưa tìm ra được Ðạo.”


8

Đêm phủ một lớp tối đen dày.
Rừng tịch mịch thỉnh thoảng gầm lên những tiếng hãi hùng rùng rợn của loài ác
thú đang cấu xé, cắn rứt nhau trong bóng tối.

Từng đêm này sang đêm khác,
đức Thích-ca ngồi tĩnh toạ trong bóng tối, nhưng hào quang trên trán Ngài sáng
rực dưới vòm lá cây bồ-đề. Ma vương, chúa tể của những cõi tối tăm, nhìn thấy,
đoán biết Ngài sắp tung bừng ánh sáng của Ðạo vàng và cứu thoát cõi đời ra ngoài
biển khổ, liền hội gấp các bè đảng để tìm cách đối phó. Thôi thì cả một đoàn
quỷ sứ, một lũ ác thần–kẻ thù của Chân Lý và Ánh Sáng, bọn gieo rắc bóng tối và
dục vọng xuống trần gian–hăm hở kéo đến vây quanh cây bồ-đề. Chúng dùng đủ
cách, khi van xin cầu khẩn, khi gầm thét doạ dẫm để làm xiêu lòng Bồ-tát.

Ðầu tiên, một đoàn quỷ Tham
kéo đến, mắt dớn dác nhìn quanh, hai tay cong cong như chực vồ lấy một vật gì.
Chúng hội lại đủ các hạng: Quỷ Tham Sống bảo Ngài: “Có gì quý giá hơn sự Sống,
sao người bỏ đi?” Quỷ Tham Danh bảo Ngài: “Hỡi người con vua Tịnh-phạn, sao dại
khờ lắm thế? Người là kẻ tài hoa lỗi lạc, người là dòng thế phiệt trâm anh,
người sắp được lên ngôi báu, danh giá không ai bằng, sao lại đi làm một kẻ ăn
xin vất vưởng từ xứ này qua xứ khác?” Quỷ Tham Khoái Lạc bảo Ngài: “Người đang
ở trong cung vui mùa lạnh có nhà ấm, mùa nực có nhà mát, ăn toàn thức ngon,
uống toàn rượu quý, tai chỉ nghe cung đàn tiếng địch, mắt chỉ ngắm những điệu
múa kỳ lạ của bọn vũ nữ. Sống khoái lạc như thế, cớ sao người lại dại khờ ruồng
bỏ để đến đây nằm sương gối tuyết?”

Ðức Thích-ca nhìn chúng trả
lời:

– Bọn ngu muội lấy giả làm
thật, bám víu vào những ảo tưởng mong manh, hãy đi xa chỗ này. Chúng mày không
cám dỗ được ta.

Bọn quỷ Tham xấu hổ, lẩn
vào trong bóng tối.

Một đoàn quỷ Gíận kéo đến
khi đoàn quỷ Tham chưa lẩn hết trong đêm. Chúng gầm thét vang trời chuyển đất.
Mặt chúng đỏ gay hay xám bạc, môi chúng bặm lại, hai hàm răng nghiến trèo trẹo
vào nhau. Những con rắn đầu nhỏ quấn đuôi quanh cổ chúng và thè nọc ra đàng
trước như chực trườn tới để cắm độc vào kẻ thù. Chúng gầm:

– Chúng ta phá hết, giết
hết, không ai có thề cản ngăn. Chúng ta nhóm lửa ở giữa lòng người và thiêu đốt
cả thiên hạ. Chúng ta gieo nọc độc khắp nơi và thế giới sẽ vì chúng ta mà tiêu diệt.
Hỡi Thái tử Tất-đạt-đa, chúng ta sẽ bắt ngươi làm đệ tử.

Nhưng đức Thích-ca chỉ mỉm
cười đưa mắt hiền từ nhìn chúng. Cái nhìn của Ngài có một mãnh lực lạ lùng! Bao
nhiêu vẻ hung hăng độc ác tan theo chúng như một làn mây!

Bấy giờ trời đất bỗng tối
sầm lại. Một sự hồi hộp, sợ sệt, e ấp trong lá. Từng đàn gì bay nặng nề trong
bóng tối như từng đàn dơi, từng đàn gì luồn dưới cỏ như từng đàn rắn. Những
tiếng chân hấp tấp chạy trong tối trước những hình đen như xạ: bọn quỷ Ngu
Muội–mẹ đẻ của Sợ Hãi và Bất Công–đến vây quanh cây bồ-đề. Sau một chuỗi cười
mai mỉa, chúng hỏi Ngài:

– Này Thái tử! Ánh
sáng của người được bao nhiêu mà dám đem ra soi đường cho nhân loại? Ðừng đeo
đuổi một công việc vô ích. Người càng tìm ra ánh sáng, chúng ta lại càng trút thêm
bóng tối. Mỗi ngày mỗi ít, chúng ta đã gieo rắc qua mấy muôn triệu năm rồi
những hạt si mê mà bấy giờ tất cả thế gian đều ngập lụt. Chúng ta thách người
đấy. Người hãy lấy ánh sáng gì để quét sạch bóng Si mê đi!

Từ đỉnh trán đứe Thích-ca
phóng một tia hào quang sáng như cả ngàn ngôi sao chụm lại, chiếu khắp bốn phía
như một bó chổi sáng quét sạch tất cả bóng đêm.

Bọn quỷ Ngạo Mạn kéo nhau
đến. Ðầu chúng ngẩng cao, ngực ưỡn, đôi mắt xấc láo nhìn Ngài. Chúng nói giọng
khinh khỉnh, sau khi đưa một tay lên khoát ở trước mặt như để xua đuổi một mùi
thối tha:

– Trần gian nhơ bẩn, hạ
tiện này có đáng gì mà phải hao công tìm phương cứu chữa? Cái bọn ngu muội xấu
xa là nhân loại này chỉ đáng để cho bị tiêu diệt. Người hãy theo chúng ta đạp
đổ thế giới này mà lên mấy từng trời xanh, cùng nhau sống riêng biệt, hưởng
những lạc thú thanh cao mà chỉ chúng ta là có quyền hưởng.

Ðức Thích-ca mỉm
cười:

– Phải! Các người hãy đạp
đổ thế giới này đi rồi con đường của các người sẽ đưa các người vào địa
ngục.

Bọn quỷ Ngạo Mạn vênh mặt,
rủ nhau bỏ đi.


Nhưng một bọn khác lại kéo đến.
Ðây là những con quỷ Nghi Ngờ, thiếu tin tưởng, đầu đưa lắc la lắc lưỡng, trên
những chiếc cổ cao, hai tay áo buông xuôi như bị đẫm ướt, môi mím lại làm nổi
một nếp nhăn trên mép nửa như mếu, nửa như cười.

Chúng đến thét vào tai
Ngài: “Giả dối, mọi sự đều giả dối! Chân lý! Chân lý là cái quái gì? Người chỉ
đi theo một ảo giác hy vọng hão huyền. Không có cách gì cứu chữa được nhân
loại. Ðạo của người sẽ vô công hiệu giữa thế giới đam mê. Ha ha! Giải thoát cho
nhân loại thoát khỏi luân hồi! Ôi, có ai điên rồ hơn thế nữa!”

Ðức Thích-ca nhìn chúng,
miệng nghiêm lại, vẻ cương quyết lạ lùng. Mắt Ngài chứa đầy một nguồn tin tưởng
mạnh mẽ làm cho bọn quỷ Nghi Ngờ cảm thấy đây không phải là nơi chúng có thể
dùng những lời bi quan để đánh đổ. Chúng rủ nhau thất thểu ra đi, đầu lắc lư
thêm, nét nhăn bên má lại càng chua chát hơn trước, hai tay buông thỏng rã rời
như không còn sức để bám víu vào một cái gì được nữa...


Nhưng bọn quỷ sứ ấy chưa nguy
hiểm lắm. Nguy hiểm nhất là Ca-ma (KAMMA), chúa tể của dục tình và những khoái
lạc xác thịt. Nó nắm một cung đồng kết hoa, mang một bó tên tẩm thuốe độc có ba
mũi nhọn mà mỗi khi chúng đã cắm vào tim thì không có sức nào rút ra được.
Ca-ma đi đầu; sau nó là một đoàn thiếu nữa đẹp như hoa, vừa đi vừa hát những
điệu hát du dương ca tụng ái tình nhịp nhàng hoà theo điệu nhạc. Chúng vừa hát
vừa đưa những cặp mắt lẳng lơ, những nụ cười khêu gợi, giấu một nửa sau những
cánh quạt hoa. Chúng uốn éo những tấm thân dẻo như rắn của chúng khi đi qua
trước mặt đức Thích-ca. Nhưng Ngài vẫn thản nhiên, lòng không mảy may xao
động.

Ca-ma liền ra hiệu cho bọn
vũ nữ dang ra và một nàng đẹp hơn cả, giả dạng nàng Da-du-đà-la đi vào. Toàn
thân nàng hiện lên một vẻ đẹp não nùng mà những ngày dài đau thương đã tô thêm
đậm nét. Nàng đến bên Ngài khẽ than, đôi mắt nhung long lanh sau màn lệ
nóng:

– Ôi Thái tử! Chàng có biết
chăng nỗi đau khổ của em khi chàng bỏ cung điện ra đi? Trên bờ sông Rohini, em
đã ngồi khóc qua những ngày dài dằng dặc. Em mong chàng về, nhưng đôi mắt đã mờ
lệ, mà trên đường về em nào thấy bóng chàng đâu! Về với em đi, Thái tử! Chàng
sẽ tựa đầu vào cánh tay em và em sẽ quạt cho chàng như những năm xưa, khi chàng
còn là lẽ sống của đời em!

Ðức Thích-ca trả lời:
– Bóng hình giả dối, như
bao nhiêu bóng hình giả dối của thế gian, mày không thể phỉnh gạt ta được. Hãy
tan cho mau theo bóng tối!


Ca-ma tức giận thét lên một
tiếng. Bao nhiêu nàng mỹ nữ đều tan biến mất. Nhưng trời bỗng chuyển động.
Tiếng gầm thét, ban đầu còn xa, mỗi lúc mỗi gần và lớn dần. Trời sầm sập đổ
mưa. Bão tố nổi dậy, từng làn chớp quăn queo đan nhau trên vòm cây bồ-đề. Bao
nhiêu dục vọng đê hèn, bao nhiêu si mê cuồng dại, bao nhiêu tội ác hiện hình,
làm thành một đạo binh hỗn độn, thổi gió, phun mưa, nổi sấm, bắn những mũi tên
độc vào Ngài, lao những chiếc sào nhọn bọc sắt. Nhưng bao nhiêu sự tấn công của
chúng đều vô hiệu. Ðức Thích-ca vẫn điềm nhiên ngồi vững chắc dưới cây bồ-đề,
trên trán một vùng hào quang chiếu rực rỡ. Và cây bồ-đề vẫn đứng yên như không
có gì xảy ra cả.

Ðến canh hai trời đất trở
lại yên tĩnh và trong suốt như gương. Trong bầu trời xanh, long lanh những vì
sao bạc. Ðức Thích-ca chứng được quả “Túc Mệnh Minh”. Nhờ trí tuệ siêu phàm,
Ngài thấu suốt được tất cả khoảng đời quá khứ xa, rất xa của Ngài trong ba
giới. Như người bộ hành ngồi nghỉ trên núi cao, nhìn xuống quãng đường quanh co
mình vừa đi qua, nào đồng, nào ruộng, nào khe, nào rừng; bên cạnh hố kia mình
sắp sẩy chân, trên bãi cát nọ mình sắp kiệt lực, và xa xa, một đám bùn lầy
phỉnh phờ giấu mình dưới những khóm lau lách, và nếu không sáng mắt, đã bị sa
chân vào đấy. Ngài thấy rõ ràng tất cả những kiếp xưa của Ngài, những nỗi khó
khăn, những điều trở ngại đã vượt qua để lên đến địa vị cao xa cùng tột này... Ngài
nhận thấy sự tăng tiến tiếp tục từ đời này sang đời khác, không một lúc nào đứt
quãng, cũng không một lúc nào đứng yên. Sau mỗi kiếp, cuộc đời như đã tan vỡ.
Nhưng không! Sự sống chỉ náu mình để dồn thêm sức lực rồi mạnh mẽ tiến lên, như
hạt lúa náu mình trong đất để chuyển hình ra cây mạ xanh tốt. Và trong cây mạ
mới, có ẩn mầm giống của những hạt lúa xưa, trong kiếp này có ẩn tất cả bao
nhiêu nhân của những nghiệp trước. Do đó, Ngài nhận thấy không một sự cố gắng
nào, một sự phấn đấu nào để đi đến cõi thiện là vô ích. Chính chúng nó đã làm
thang cho Ngài bước, xây tháp cho Ngài lên. Và bây giờ ngồi trên đỉnh tháp cao,
xây dựng với bao nhiêu đời mình, Ngài đưa mắt sáng suốt nhìn xuống, thấy rõ
ràng từng viên gạch và từng công trình kiến trúc mà Ngài đã ra công xây dựng để
đến ngày khánh thành rực rỡ hôm nay.


Ðến nửa đêm, ngài chứng được
quả “Thiên Nhãn Minh” thấy rõ tất cả bản thể của vũ trụ, từ thế giới này đến
bao nhiêu thế giới khác. Ngài thấu suốt tất cả các hàng tinh tú từ nhỏ cho đến
lớn, từ gần cho đến xa, cái này liên lạc với cái kia, cái kia với cái khác, cái
khác với cái khác nữa, như những trục bánh xe ràng buộc với nhau bởi những sợi
dây vô hình và cứ như thế mà lan dần cho đến vô cùng, vô tận... Tuy xa cách
chúng vẫn hiệp vầy, tuy nhiều mà một, tuy một mà nhiều. Chúng có khác nhau ở
hình dáng, nhưng không khác nhau ở bản chất. Tất cả vòm trời sao sáng ấy là
những hòn đảo bạc nổi giữa biển xanh ngời, không bờ không bến, trong ấy sóng
triều luân chuyển mãi không thôi, và cũng không thêm, không bớt, không đầy,
không vơi, vừa sanh vừa diệt, vừa diệt vừa sanh... Sau khi đã quan sát toàn cả
vũ trụ. Ngài nhận thấy một cái luật chung bất di bất dịch, âm thầm mà mạnh mẽ,
nó chuyển mọi vật từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi chết đến cõi sống, từ vô hình
đến hữu hình, từ hữu hình trở lại vô hình, làm thành một vòng tròn gồm bốn giai
đoạn: sinh, trụ, dị, diệt. Cái luật ấy không gì có thể vượt qua, từ một vật bé
nhỏ như vi trần cho đến to lớn như trăng sao. Ðó là luật nhân duyên sanh.

Ðến canh tư, Ngài chứng
được quả “Lậu Tận Minh” rõ biết nguồn gốc của sự đau khổ đã bám víu vào chúng
sanh như bóng dính theo hình. Ngài nhận thấy, vì dục vọng làm mù quáng, như vì
bụi dấy lên từ dưới chân đàn cừu làm lạc mất đường chúng đi, người đã từ bản
tâm sáng suốt đi dần mãi vào cõi Vô minh. Vì Vô minh mà người có những hành vi,
động tác sanh ra các nghiệp báo (hành), rồi tự phân biệt có cái ta riêng khác
(thức). Phân biệt như thế, tất nhiên thấy có nội tâm và ngoại cảnh, có hình
tướng sắc màu và đặt tên cho mọi sự vật (danh sắc); bấy giờ một bên là tâm, một
bên là cảnh; đối với cảnh, tâm có những giác quan riêng để thu nhận được (lục
nhập); hình tướng và giác quan đụng chạm, cọ xát với nhau mà thành ra cảm giác
(xúc); xúc cảm đem đến sự thọ nhận các hiện tượng ở thế gian (thọ); sự thọ nhận
ấy gây ra tình yêu mến đối với vật mình ưa thích (ái); đã yêu mến thì cố giữ
gìn (thủ); cố bám víu vào cái mình đã ưa thích không muốn chia lìa (hữu). Vì
thế mà có nghiệp báo ở thế gian. Cái nghiệp báo ở thế gian bắt phải đầu sanh lại
ở cõi đời sau khi chết (sanh). Và từ đấy, bắt đầu một cuộc sống khác với những
sự dau khổ kèm theo nó: bệnh, già, chết (bệnh, lão, tử). Mười hai giai đoạn ấy
nối tiếp nhau, nhân này làm quả kia, quả kia làm nhân khác, và cứ như thế, cái
vòng tròn quay tít không thôi. Muốn cắt đứt cái vòng tròn ấy, phải trừ Vô minh.
Nhưng người ta không thể trừ Vô minh, không thể sáng suốt được khi còn nhiều
tham vọng. Ôi tham vọng! Sự khát khao không bao giờ thoả mãn, khiến người uống
mãi trong biển mặn đau thương và làm thêm khao khát thèm thuồng, và mãi mãi
quay cuồng trong sinh tử. Người hiểu rõ cái nguy hiểm của dục vọng, quyết kiềm
chế lòng mình, diệt trừ tham muốn cho đến tận gốc (giới). Lúc dục vọng đã bị
gạt bỏ ra khỏi lòng, người sẽ bình thản trước mọi sự vật giả dối đang xao xuyến
ở xung quanh. Lúc ấy tâm thần sẽ định tỉnh, không một sức mạnh nào có thể lay
chuyển lao lung (định). Trí tuệ nhờ đó mà mỗi ngày mỗi minh mẫn, và một ngày
kia, sẽ bưng lên soi cùng vũ trụ (tuệ), như vầng trăng hiện ở dưới đáy hồ khi
mặt nước đã trở lại phẳng lì vì gió dục đã dừng thổi sóng khổ đau.

Từ đấy, cỗ xe đời rã bánh,
người bị buộc vào cỗ xe được giải thoát, vượt ra ngoài phạm vi nhỏ hẹp, thấy
mình là toàn thể, toàn thể là mình. Người không còn bị ràng buộc trong không
gian, cho nên không phụ thuộc với thời gian; không riêng giữ một hình dáng cho
nên luôn luôn vĩnh viễn; bởi biết tự đổi thay cho nên không bao giờ bị thay
đổi. Người bắt đầu qua một trạng thái mới, không sanh không diệt, an lành thanh
tịnh, sáng suốt vô ngần: đấy là Niết-bàn!

Bình minh bừng dậy. Ánh
sáng làm mờ hẳn sao mai–kẻ soi đường cho người đi khuya–vừa lại ở ven trời.
Bóng đêm rạn vỡ tan biến rất nhanh. Nắng vàng bắt đầu xối chảy xuống trần gian.
Nắng vàng gội rửa những chóp núi cao, nắng vàng tuôn tràn ra hai bên sườn, reo
chảy xuống chân núi, lan dần ra trên đồng bằng, khoả một lớp mỏng trên mặt
sông, mặt biển, làm lấp lánh những ánh kim cương trên muôn ngàn làn sóng.

Ánh Sáng Vàng lan tràn khắp
mọi ngả, và giục giã đời dậy khắp nơi. Nó đến mở mắt loài chim và thì thầm:
“Hót đi các con! Ðêm vừa hết!” Nó đến vuốt ve loài hoa và bảo: “Nở đi các con!
Ánh sáng đã về!” Nó đến mân mê loài thú và nói: “Ánh sáng đã về. Thôi qua rồi
bóng đêm độc ác!”

Nó điểm tô cho cảnh vật một
màu sắc mới: nó nhuộm vàng những làn mây xám, làm anh ánh những hạt lệ đêm.
Những vòm lá xanh xao vàng úa như da người ốm bỗng đổi ra màu lục đậm, những
cánh hoa xoan đỏ như máu bỗng chuyển sang màu hoàng bá...

Nhưng ảnh hưởng đẹp đẽ và
mạnh mẽ nhất của luồng Ánh Sáng kia là ở giữa lòng người. Ôi! Ánh Ðạo Vàng! Ánh
Ðạo Vàng huyền diệu! Bọn cướp bỗng ghê sợ bàn tay tẩm máu của mình, vứt dao vào
bụi; người bán hàng thôi bán giá cao; kẻ đổi bạc thôi chuồi thêm bạc giả; người
đau mỉm cười trên giường bệnh; người sắp chết thấy mình tràn đầy hy vọng; kẻ
lạc đường bỗng quay lại và thấy mình đi trúng đích! Bóng cờ giải hoà phấp phới
bay trên các bãi chiến, và quân địch nhìn ra toàn mặt anh em, sung sướng bổ
chồm tới ôm nhau khóc...


Cũng buổi mai ấy, trong cung
lạnh, nàng Da-du-đà-la nghe lòng mình ấm dịu và reo chảy một nguồn vui. Trên
cành liễu trước sân một con Ca- lăng-tần-già uốn lưỡi tung một tràng nhạc, ca
tụng sự rạng rỡ của Ðạo Vàng, chói chang ánh sáng, cao sang hơn muôn ngàn ngai
vàng, điện ngọc.


(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Ánh Đạo Vàng 3
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC :: CÁC MẤU CHUYỆN ĐẠO-
Chuyển đến