Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Ánh Đạo Vàng 2

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Ánh Đạo Vàng 2   Tue 22 Sep 2009, 14:11

ÁNH ĐẠO VÀNG (TT)
4

Đường trong thành Ca-tỳ-la-vệ
đã được quét chùi bóng loáng. Cờ phất phới bay trên những cành cây cao. Tường
phố đều tô vôi lại như mới. Những đóa hoa trong chậu cảnh đều xoay mặt ra phía
đường. Khói hương trầm bay nghi ngút trong những hương án thờ Nhật thần và các
vị thần khác, dựng lên ở các ngã ba, ngã tư. Từng đoàn lính nhà vua, hôm trướe
đã đi khắp các đường dõng dạc rao: “Ngày mai Thái tử Tất-đạt-đa được lệnh đi
thăm thành phố. Hoàng thượng truyền rao cho các phố xá phải trang hoàng đẹp đẽ
để tiếp Thái tử. Không aỉ được để lộ cảnh tượng xấu xa hay buồn thảm. Những
người già ốm hay tật nguyền không được lảng vảng ngoài đường. Các lễ hoả táng
phải hoãn sang ngày khác. Ai không tuân lệnh sẽ bị trừng phạt nặng”.

Nên thành Ca-tỳ-la-vệ hôm
ấy được trang hoàng như ngày đại hội. Thái tử từ trong thành ra, ngồi trên một
cỗ xe, có hai con bò trắng như tuyết kéo. Một nỗi hân hoan lan tràn trên các
đường phố và Thái tử sung sướng nhìn đám dân vui vẻ trong những bộ quần áo sặc
sỡ đang quấn quýt quanh xe. Ngài cười mãi, hai mắt vui như hai vành trăng
thượng tuần, chứa đầy một niềm âu yếm trướe cảnh tượng hoan lạc của đám bình
dân, và đám bình dân kéo nhau theo sau xe Ngài như một dòng nước chảy, vừa tung
lên mình Ngài những đoá hoa rực rỡ, vừa hoan hô: “Thiên xuân Thái tử! Thiên xuân
Thái tử!” Ngài quay mặt về phía tên đánh xe:

– Ồ! Ðời bình yên
quá, Xa-nặc ơi! Ta không ngờ đám thường dân ở dưới quyền thống trị của phụ
hoàng cũng được hưởng hạnh phúc chẳng kém gì ta. Chỉ nhìn vẻ sung sướng của bao
nhiêu người ấy, ta cũng thấy tràn vào lòng ta bao hạnh phúc rồi. Ồ dễ thương
quá! Ðứa trẻ đang bặm môi tung hoa vào xe ta đó? Ngươi hãy bảo nó lên ngồi với
ta đi. Chao ôi! Sung sướng quá, ngươi hãy cho xe đi xa nữa đi.

Cỗ xe khoan thai tiến tới,
hai bánh ngập một nửa dưới đường đầy hoa. Ðến một quãng đường cong, bỗng từ
trong chòi tranh lảo đảo bước ra một ông già nương mình còng trên chiếc gậy
ngắn. Tóc ông ta bạc như vôi và bờm xờm như ổ quạ làn da nâu nhăn nhíu giống
hạt cau khô; đôi mắt sâu và đục ngầu tượng trưng cho hai vũng nước đọng. Tất cả
mình ông chỉ là một bộ xương người biết cử động, dán ở ngoài một lớp da nhăn.
Trước những tiếng nạt nộ và xua đuổi của quân hầu, bộ xương ấy lập cập vấp ngã
ra giữa đường. Quân hầu hối hả chạy lại, kéo lão ra một bên. Nhưng Thái tử
truyền giữ lại:

– Xa-nặc! Cái gì đấy? Có
phải một người không? Sao ta trông không giống chút nào với những người đang ở
xung quanh ta thế?

–Thưa Thái tử, đây là một
người già. Lúc mới sinh, ông ta cũng như mọi người khác, nhưng vì thời gian mỗi
ngày một tàn phá mà sanh ra như thế! Ðấy là một việc thường, có gì lạ đâu mà
Thái tử phải để tâm đến?

– Người bảo là một chuyện
thường? Thế thì ta, Da-du và mọi người sẽ thành như thế cả sao?

– Thưa, rồi sẽ như thế cả,
nếu sống lâu.

Thái tử nhìn trân trân vào
mặt Xa-nặc một hồi, như để nhớ lại một điều gì, rồi bảo quay liền xe về
cung.


***

Từ chiều ấy trở đi, Ngài không
vui nữa. Những món ăn như có tro lẫn vào, Ngài không làm sao nuốt qua khỏi cổ;
những tiếng đàn như hoà theo với tiếng khóc than; và vẻ uể oải không biết tự
lúc nào đã len vào trong những dáng điệu của đoàn vũ nữ.

Nàng Da-du rướm nước mắt,
quỳ xuống bên chân Ngài, van vỉ:

– Hôm nay đi chơi về, sao
Ngài lại buồn quá thế? Chuyện gì đã làm phật ý Ngài chăng? Nhưng dầu có chuyện
gì xảy đến đi nữa, thì ái tình của đôi ta cũng đủ đem hạnh phúe lại cho chúng
ta rồi, can chi mà Thái tử buồn lắm thế?

– Em ơi? Cái hạnh phúc ấy
không vĩnh viễn. Ta nghĩ đến một ngày chúng ta sẽ già yếu và xấu xa; thời gian
sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Mất trong của em rồi sẽ mờ đục.
Môi đỏ của em sẽ úa màu! Và hai bàn tay đẹp đẽ thế này sẽ co quắp lại như những
que củi khô! Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ
vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian, tất cả những gì quý giá của đời người.
Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi người, tiếng rần rộ của những cỗ xe
đang theo nhau chở những của báu ấy đi dần! Ôi tức tối! Thế mà chỉ đứng nhìn sự
tàn phá ấy, không thể cản ngăn!.

Chúng ta ôm giữ một cách
tuyệt vọng những bảo vật ở trong ta, như ôm giữ một cái bóng, như nắm bất một
làn hương!

Em ơi ! Chúng ta đang ngồi
yên trong ánh sáng, mà ta nghe như đang xê xích mãi về trong bóng tối! Chúng ta
thật có xê dịch vào trong bóng tối không? Hay chính bóng tối đang xê dịch về
phía chúng ta đấy, em nhỉ? Nhưng tìm hiểu mà làm chi? Ðiều chắc chấn là chúng
ta sẽ xa ánh sáng hạnh phúc, xa những của báu trong chính chúng ta, mà xưa kia,
ta đã tưởng sẽ bất di bất dịch ở với chúng ta cho đến ngày tận thế!


Ðêm ấy, Thái tử trằn trọc mãi,
không ngủ được.

Và cũng đêm ấy, trong giấc
ngủ say, Tịnh-phạn vương mơ thấy bảy điềm mộng dữ, báo trước rằng Thái tử sắp
xuất gia. Ngài lo sợ lắm, lại tuyển thêm vũ nữ, ca nhi để làm khuây lòng Thái
tử và để giữ Ngài lại trong “Cung Vui”.

Nhưng bao nhiêu cố gắng eủa
bọn cung phi, mỹ nữ đều vô hiệu. Thái tử không thể vui lên! Tâm trí của Ngài
mỗi ngày mỗi bị một sức mạnh gì lôi kéo ra ngoài đường phố. Ngài đoán chắc ở
đấy còn có nhiều sự bí ẩn khác mà Ngài chưa thấu rõ đấy thôi. Một hôm, Ngài đến
triều, xin với vua cha:

– Tâu phụ hoàng, lần trước
phụ hoàng vì muốn làm vui lòng con mà truyền cho dân gian che giấu những cảnh
tượng xấu xa, đau đớn và chỉ truyền bày toàn những cảnh tượng vui tai, vui mắt
trong các phố phường. Cái ân huệ ấy, thật con không biết lấy gì đền đáp cho
vừa. Nhưng con tưởng đây không phải là đời sống thật hàng ngày. Vậy dám xin phụ
hoàng mở lượng hải hà, cho con được chung đụng với cuộc đời của đám thường dân,
thấy tường tận những cách sống và làm việc của họ, để con biết được một đôi
phần kinh nghiệm.

Tịnh-phạn vương ngẫm nghĩ
một hồi lâu, rồi truyền cho con ngài được như nguyện. Ngài tự bảo: “Con ta đã
xúc động nhiều trước cảnh khổ, vì mới thấy một lần đầu, nhưng lần này, có lẽ nó
sẽ quen với nhiều cảnh khổ khác mà không xúc động mạnh như lần trước nữa chăng?
Mà phải, ta cũng nên để cho con ta quen dần với những cảnh thực tế. Ừ, sáng
suôt là những kẻ đứng ngoài. Sự chung đụng sẽ làm lờn xúc cảm”.


Ngày hôm sau, lúc giữa trưa,
Thái tử và Xa-nặc đổi dạng thành hai người lái buôn đi bộ ra cửa thành. Hai
người chen lẫn trong đám thường dân, thấy cảnh tượng vui cũng nhiều mà buồn
cũng lắm: người bán hàng ngồi xếp bằng tròn giữa những thúng hàng bày la liệt
ra tận đường cái; kẻ gánh kiệu vừa đi vừa hát; những cỗ xe bò kềnh càng chở đầy
hàng hoá; từng đoàn thiếu phụ đội hay xách những vò nước múc ở giếng về; một
đàn lạc đà cao nghều nghệu ngơ ngác đi giữa đám đông. Từng cụm người chen chúc
quanh một người dụ rắn, kẻ đứng sau kê cằm lên vai người đứng trước, say sưa
xem những con hổ mang đang phồng má theo nhịp tiếng kèn, hay bò quanh thân hình
chủ nó. Thỉnh thoảng một đám người mang kèn trống đi qua, rồi đến một toán
người, ngựa trang hoàng rực rỡ đi rước cô dâu về nhà chồng. Một vài thiếu phụ
kính cẩn đội một khay hoa quả đến đền cầu thần cho chồng mình đi buôn xa mau
về, hay cho mình sanh được con trai. Trong các trường học, những cậu bé đầu
trọc ngồi quanh nửa vòng, hát những đoạn thơ lịch sử về các vị Thánh. Cái gì
đối với Thái tử cũng lạ mắt, lạ tai, và chân Thái tử đưa Ngài đến bờ sông bao
giờ Ngài không hay. Ngài định đứng ngắm cảnh tấp nập của thuyền bè đi qua.
Nhưng gần bên gốc cây có tiếng ai rên rỉ: “Cứu tôi với, các người ơi! Ôi, ôi
đau quá! Tôi chết ở đây thôi! A, tôi chết ở đây rồi!” Người ấy nằm sấp trên
đất, hai tay bấu vào cỏ, đầu ngước lên trời, mình run cầm cập; miệng méo hẳn
lại, hai mắt trắng như bạch lạp, hơi thở gấp gấp; từng giọt mồ hôi toát trên
trán lạnh. Người khốn nạn cố bám vào một gốc cây để đứng dậy, nhưng vừa đứng
chưa vững đã ngã xuống, rên rỉ: “Ai cứu giùm tôi, tôi chết rồi!”

Thái tử liền chạy đến, đỡ
người đau dậy, kê đầu ông ta vào đầu gối mình và lau mồ hôi chảy trên trán.
Ngài vừa vuốt ve vừa hỏi:

– Người đau gì thế? Nói cho
ta hay đi, sao lại rên siết mãi thế? Xa-nặc ơi. Người này vì sao mà rên la thảm
thiết như thế? Có cách gì chữa được cho người ấy, hãy nói cho ta nghe.

– Thưa Thái tử, người ấy
mắc phải chứng dịch hạch, không có cách gì chữa được.

– Chắc là đau đớn
lắm?

– Thưa Thái tử, chính thế.
Chỉ nhìn những cử chỉ, nét mặt của người ấy cũng đủ biết ông ta đau đớn biết
chừng nào! Nhưng xin Thái tử hãy để người ấy xuống, đừng ôm vào lòng như thế,
bệnh sẽ truyền sang Ngài.

–Sang ta?–Thái tử hỏi, vẻ
ngạc nhiên.

– Thưa Thái tử, sang cả
Ngài cũng như sang cả mọi người. Nhưng nào phải chỉ riêng một bệnh này. Còn bao
nhiêu bệnh khác cũng nguy hiểm như thế cả, bệnh dịch tả, đậu mùa, ho lao,
phong... ôi làm sao kể xiết được. Và nào có ai biết chúng sẽ nhập vào mình lúc
nào! Chúng đi đến, lặng lẽ như một con rắn bò dưới cỏ, như một con hổ đứng rình
trong bụi, nhưng khi nó phát ra thì nhanh như một tiếng sét.

– Thế thì người đời luôn
luôn sống trong sợ hãi, lo âu?

– Thưa như thế đó, Thái tử
ơi! Không có thể tự hào : “Tôi sống yên ổn và sung sướng hôm nay, và ngày mai,
tôi cũng sung sướng và yên ổn như hôm nay”. Bao nhiêu sự bất ngờ, đau đớn đang
rình đón ở hai bên đường đời, người ta không bị lâm vào hoạn nạn này thì lâm
vào hoạn nạn khác, cho đến một ngày kiệt quệ, không thể bước tới nữa, người ta
buông xuôi tay, ngã lăn ra bên dường, nhắm mắt lại và nằm lẫn lộn với đất đai!
Thưa Thái tử, đến chết là kết liễu một đời.

– Ðến chết là kết liễu một
đời?

Thái tử đang ngạc nhiên và
băn khoăn vì câu nói ấy, thì phía trước Ngài, một đám tang đi qua.

– Thưa Thái tử, kia kìa,
một cảnh chết đang đi qua!

Ngài nhìn lên. Một đám
người đang đi về phía bờ sông. Mở đầu là một người bưng một lư trầm bằng đất;
theo sau, năm sáu người, đầu cạo trọc, áo choàng lôi thôi, vừa đi vừa kể lể:
“Hỡi Rama! Rama cao cả ! Sao ngài không nghe tiếng cầu nguyện của chúng tôi!
Hãy cầu nguyện giùm chúng tôi, các anh em ơi! Hãy cầu nguyện cho Rama nghe
rõ!”

Sau cùng, tám người khiêng
một tấm tre đan buộc vào bốn đòn tre; người chết nằm ở trên, chân trở ra đàng
trước, mắt nhắm lại, miệng hơi mở, má thóp vào, hai tay gác lên bụng lép. Đến bờ
sông, mấy người khiêng quay đầu thây ma về phía trước và kêu to : “Rama! Rama!”
rồi đặt lên một dàn củi đã dựng sẵn ở đấy. Một người cầm bó đuốc châm vào củi.
Ngọn lửa lan dần, thập thò một lúc quanh giàn hoả, rồi thè những cái lửa đỏ
liếm cùng thây ma, và một lúc, hùa nhau táp mạnh vào. Trong chốc lát, giàn hoả
cháy rực lên, khói toả nghi ngút, mùi khét lan một vùng.

– Thưa Thái tử–Xa-nặc nói
và nói mãi như có ai xúi sử–rồi cái thây ấy sẽ cháy ra tro xám, người ta sẽ rải
cùng bốn phương. Và thế là xong một đời. Không ai có thể tránh khỏi cái luật
chung ấy được. Người đang bị thiêu trên giàn hoả kia, trước kia cũng đã ăn
uống, rượu chè, say sưa với cuộc đời xây dựng chung quanh mình những thành trì
vật chất tưởng như là vững chắc lắm. Nhưng có gì đâu! Một cái nọc rắn, một cái
xương cá, một viên ngói rơi, một bước sẩy chân, một làn gió độc cũng đủ cắt
ngang mạch sống của một đời. Thế là thôi, không còn cảm giác nữa, mình nằm trơ
ra đấy, làm mồi cho thần hoả hay những bữa tiệc dài cho côn trùng trong đất!

Thưa Thái tử, chính bên
chân Ngài, một người nữa vừa chết!”

Thái tử nhìn xuống. Người
bệnh đã tắt thở, thân hình co quắp bên cạnh gốc cây!

Ngài ngước mắt lên trời,
đôi hạt lệ thiêng rung rinh trong đôi mắt tràn đầy từ bi. Rồi Ngài cúi đầu
xuống trong dáng điệu trầm tư để hội lại trong trí bao cảnh tượng xa xôi đã tản
mác khắp nơi. Bên tai Ngài lại phảng phất những lời than của nhạc gió buổi
chiều nào ở trong “Cung Vui”.


Bấy giờ, một tình thương thiết
tha mãnh liệt trào dậy ở giữa lòng. Ngài dang hai tay lên như để ôm cả vũ
trụ–cử chỉ của người mẹ ôm vào lòng đứa con đau khổ–mà dỗ dành:

– Hỡi thế giới khổ đau! Hỡi
tất cả anh em quen và lạ đang giãy giụa trong lưới đau thương của cuộc đời! Ta
đã thấy, đã cảm nghe rồi hơi thỡ thoi thóp của trần gian đang hấp hối. Ta đã
nhận rõ bóng ảo huyền của lạc thú, sự mỉa mai của hạnh phúc, cái áo não của
những nỗi lao khổ, nhọc nhằn! Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ, trong hội ngộ
đã sẵn mầm chia ly, trẻ trung đưa dần đến già yếu, sống đến chết, chết đến
những cuộc sống vô định khác; và cứ như thế, từng hạt đau thương chạy vòng trên
chuỗi hạt thương đau để đưa nhau về vô tận. Ðời chỉ có thế mà chính ta cũng đã
say đắm với những khoái lạc huyển hoặc của bả đời.

Ta đã tưởng đời là một dòng
nước trong xanh reo chảy mãi giữa hai bờ hoa thấm. Nhưng nước chỉ trong xanh
được trong chốc lát, bờ hoa hiện nhanh như một làn chớp, và đây, dòng sông kéo
mình qua những đoạn bùn lầy để lăn nhào vào trong biển nhớp! Ta đã thấu rõ chân
tướng của sự sống rồi. Ta sẽ đi tìm cho nhân loại một con đường giải thoát. Ta
đã thấy nhiều rồi! Ði về thôi Xa-nặc.


Hai thầy trò lặng lẽ đi về
trong ánh sáng le lói của mặt trời hồng sắp tắt; bóng của hai người chập chờn
bổ về phía trước, mỗi lúc một dài thêm.

Khi Thái tử bước lên thềm
gạch của “Cung Vui” thì bóng Ngài dài dằng dặc bổ nhào vào trong cung trước. Và
từng dấu giày bám bụi của cuộc đời bên ngoài in lần đầu tiên trên những tấm đá
hoa trắng.


5

Đêm Ấn độ toả dần thanh khí
nhẹ. Muôn vì sao lấp lánh kết thành ngàn chuỗi hạt kim cương. Trăng rằm đủng
đỉnh ngự trên những chóp núi cao ở phía Tây; những dòng ánh sáng chảy lai láng
giữa không gian: Gió lành lạnh từ những đỉnh núi tuyết ở Hy-mã-lạp-sơn thổi về,
đem trộn lẫn hương của trăm thứ hoa rộn nở với những mùi thơm ngọt của những trái
cây chín muồi. Âm thanh dìu dặt vang động từ những làn sóng rất xa ở sông Hằng.
Trời đất dâng hương và nổi nhạc để đón tiếp đấng cao cả nào đây?

Trong “Cung Vui” sau một
bữa yến tiệc linh đình, mọi người đều yên ngủ. Thỉnh thoảng điểm rời rạc từng
tiếng trống cầm canh. Ðiện của Thái tử Tất-đạt-đa phủ dưới một làn yên tịnh.
Ánh trăng xuyên qua những tường đá chạm mặt võng chiếu vào phòng rộng mênh mông
của bọn cung nga. Ðây là những vũ nữ tuyệt đẹp ở thành Ca-tỳ-la-vệ. Sau một
ngày nhảy múa, họ mệt mỏi đứng tựa đầu vào tường ngủ, còn giữ lại vẻ uyển
chuyển của điệu múa, còn mang những vòng hoa trên trán, xiêm nghê trên mình để
kịp nhảy múa lại, khi Thái tử bừng mắt dậy. Ðây là những ca cơ tài hoa nhất
trong xứ: họ ngủ ngồi, trong tay còn nắm một cặp phách, một cánh quạt lông hay
một đoá hoa thắm. Họ tựa đầu vào vai như những con chim nhỏ nghiêng đầu vào
cánh ngủ để đợi mặt trời lên là hót lại. Ðây là những nữ nhạc công gục đầu
xuống những cây đàn sáu dây, làn tóc đen nháy, chảy dài thành từng đường sóng trên
lưng cong. Có nàng bỗng mỉm cười trong chiêm bao; có lẽ họ mơ thấy, vì một điệu
đàn huyền diệu, làm mất được nét nhăn, mỗi ngày mỗi đậm, trên trán Thái
tử.


Ði sâu vào trong nữa là phòng
ngủ của Thái tử và công chúa Da-du. Công chúa đang ngủ bên cạnh bỗng mở mắt hơ
hãi nhìn tứ phía, rồi nhìn Thái tử. Nàng kéo tay Thái tử đặt trên làn môi nóng
của nàng và những giọt nước mắt ấm se tròn trên gò má như một đôi đũa
ngọc.

– Thái tử! Thái tử hãy tỉnh
dậy cho em phân một đôi lời !

Thái tử vờ giật mình thức dậy,
vì thật ra Ngài có ngủ được đâu, Ngài cố lấy giọng rất dịu dàng để hỏi
vợ:

– Em muốn nói gì thế, em
yêu quý của ta ơi?

Công chúa nghẹn ngào một
hồi mới nói ra lời:

– Thái tử ơi ! Bao nhiêu hy
vọng của em rụng hết rồi! Em vừa thấy ba điềm chiêm bao chẳng lành cho đời em
sau này. Thái tử ạ ! Em vừa mộng thấy một con bò mình trắng sừng dài trông rất
đẹp, đi qua đường. Nó mang trên trán một hòn kim cương lóng lánh như cả một vì
sao. Nó khoan thai đi ra phía cửa thành, sau nó có những tiếng kêu thất thanh,
bảo bắt nó lại: “Nếu các người để nó đi thì thành này còn chi là lừng lẫy nữa!”
Nhưng nó vẫn đi , không ai cản lại được. Em chạy theo, khóc lóc, và lấy tay ôm
ngang cổ nó, cố sức níu lại, miệng em hô quân đóng cửa thành. Nhưng con bò dịu
dàng thoát cánh tay em rồi đi thẳng.

Nàng Da-du nín lặng một
hồi, lấy hơi, rồi lại kể tiếp:

Trong giấc chiêm bao thứ
hai, em thấy hiện lên giữa không tnmg bốn thiên thần mắt sáng như lưu ly, đi
lần đến phía thành của chúng ta. Lúc lá cờ trên thành đang phất phới bỗng rơi
xuống, và ở chỗ ấy nổi lên một lá cờ khác, có những đường chỉ bạc và những hạt
ngọc sáng ngời. Vừng đông ửng đỏ, gió đông thổi dậy, lá cờ vỗ gió phất phới,
uốn éo thành những gợn sóng chói loà. Rồi vô số hoa lạ, và ngọc, và vàng, và hổ
phách, xà cừ, mã não rơi, rơi không biết tự nơi nào hay tự trời cao rơi xuống,
như một trận mưa ngũ sắc.

– “Như thế” Thái tử nói
“thì đẹp mắt lắm em nhỉ?”

Nàng Da-du nhìn chồng, lắc
đầu:

– Không, không đâu Thái tử
ơi! Em sợ lắm vì em nghe những tiếng hãi hùng thét lên: “Giờ sắp đến! Giờ sắp
đến!”

Trong giấc mộng thứ ba, em
thấy em nhìn về phía Thái từ nằm, nhưng ở đấy chỉ thấy một chiếc gối chưa nhàu
và chiếc áo của Thái tử bỏ lại. Em nhìn lại mình em thì, ôi ghê rợn quá, chuỗi
ngọc mà Thái từ thường dùng để thắt lưng, hoá thành một con rắn cắn vào lòng
em! Và ở xa, em nghe tiếng con bò trắng rống, ở trên thành em nghe tiếng lá cờ
đập gió, và ở nơi nào không biết, có tiếng kêu to: “Giờ tới rồi!” Những tiếng
ấy làm em tỉnh dậy. Phải không Thái tử, những tiếng ấy là gì, nếu không phải là
diềm báo em sắp chết, hay hơn nữa, điềm Thái tử sắp xa em? Ðừng xa em, tội
nghiệp Thái tử nghe!


Nàng nhìn Thái tử, đôi mắt
lộ vẻ cầu khẩn thiết tha. Thái tử nhìn lại, một cái nhìn hiền dịu như trăng
tà.

–Em đừng sầu khổ! Em sẽ được
an ủi vì một tình yêu rộng lớn. Dù những chiêm bao ấy là cái bóng bổ tới trước
của những sự sắp xảy ra, dù trời đất điên đảo, mọi vật đổi thay, dù sự gì có
thể xảy đến cho chúng ta, em hãy tin chắc rằng: ta đã yêu em và còn yêu em mãi
mãi. Em biết rằng ngày đêm ta đang tìm cách cứu thoát cho thế giới đau khổ này.
Lòng thương của ta bao trùm cả vũ trụ, thì đối với em, người đã luôn luôn sống
bên cạnh ta, đã săn sóc đến hạnh phúc ta, sao ta lại không mến chuộng được! Dù
thân ta như chim đại bàng, bay đi viễn du khắp thiên hạ, tâm ta thường trở lại
tổ cũ, quấn quýt lấy những người thân.

Và sẽ an ủi cho em biết bao
nhiêu, khi em nghĩ đến một ngày kia, nhờ lòng hy sinh của em, mà thế giới được
sống trong cảnh tịnh lạc. Em hãy can đảm và quảng đại lên, để cùng ta gánh
chung một phần đau khổ cho nhân loại. Em hãy hy sinh, nếu cần, ái tình nhỏ hẹp
để được tình thương rộng lớn của vũ trụ biết ơn.

Nếu một ngày kia vì tình
thương nhân loại mà ta phải xuất gia, thì em hãy nhớ lại những lời căn dặn bây
giờ, để tự an ủi trong những ngày trống lạnh, nghe em! Thôi em hãy ngủ
đi!

Công chúa nghe những lời êm
dịu của Thái tử, thiêm thiếp nhắm mắt ngủ lại. Nhưng trong giấc ngủ, tim nàng
còn thổn thức, mắt nàng còn ứa lệ, và bên tai nàng còn văng vẳng những tiếng
kêu vội vã: “Giờ đã đến! Giờ đã đến rồi!”

Thái tử trỗi dậy, đến tựa
tay vào cửa sổ. Trên vòm trời cao muôn sao lấp lánh. Ngài nghe tiếng của đêm
khuya giục giã: “Ðêm đến đã lâu rồi! Ngài hãy chọn một con đường trong hai con
đường: danh vọng hay từ bi. Ngài muốn làm một vị Đại vương hay bỏ ngai vàng,
dấn thân trong cát bụi?”

– Ta sẽ dấn thân trong cát
bụi. Trong im lặng của đêm đen, ta đọc thấy phận ta viết bằng chữ bạc của trăng
sao! Ta phải đi! Ta sẽ ruồng bỏ ngôi báu. Ta không muốn chinh phục đất cát bằng
lưỡi kiếm nhọn. Ta không muốn làm một kẻ chinh chiến, tắm bánh xe trong máu đào
của muôn bãi chiến để lưu lại cho hậu thế một kỷ niệm gớm ghê!

Ta muốn để chân trinh bạch
trên đường chông gai, lấy đất làm giường, lấy cỏ cây làm áo, kiếm hạt cơm bố
thí để nuôi thân. Tiếng kêu đau thương của thế giới xé rách màng tai, lòng từ
bi của ta chỉ muốn xoá bỏ những cảnh khổ của nhân loại. Ta phải hy sinh tất cả
và phấn đấu cho đến ngày tìm ra được phương thuốc cứu khổ.

Ta tin rằng phương thuôc ấy
thế nào cũng eó, nhưng ta tìm chưa ra đấy thôi. Loài người khi mới sơ khai,
chịu tối tăm rét mướt cho đến một ngày nào đó, họ đã tìm được ngọn lửa trong đá
lạnh. Họ đã nghiến ngấu toàn thịt mãi cho đến ngày tìm được cây lúa, mọc lẫn
lộn trong những cây cỏ khác. Họ ú ớ bập bẹ cho đến ngày tìm ra tiếng nói trong
cổ họng. Những của quý ấy nằm sờ sờ trước mắt, nhưng nào phải tìm được dễ dàng
đâu? Có cái gì quý báu mà không phải gia công tìm kiếm, không phải đem hết sức
lực, trí não để chinh phục, và một tình thương mãnh liệt dẫn đường? Nay ta ra
đi, bỏ hết những lạc thú ở cung điện, mang một tình thương rộng lớn, một thân
thể cường tráng, chưa hề bị tật bệnh tàn phá, một trí tuệ minh mẫn chưa bị dục
vọng làm lu mờ, ta tin chắc thế nào cũng tìm ra được ánh sáng, thấy rõ con
đường chánh để đưa chúng sanh đi.

Hỡi nhân loại đang quằn
quại đau thương, hỡi cõi đời sầu khổ! Vì các người mà ta đành bỏ tuổi măng tơ,
bỏ ngôi báu, bỏ những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay bám víu của người vợ
hiền, cắt ngang tình yêu mãnh liệt của phụ vương và xa lánh đứa con thơ đang
nằm trong bụng mẹ. Hỡi phụ hoàng, hiền thê, bào nhi và xã tắc! Xin hãy gắng
chịu sự chia ly này cho đến ngày tôi tìm ra Đạo.


Ngài quỳ một chân, cúi đầu
xuống, để trán trên giường. Công chúa đang thiêm thiếp ngủ. Trên dôi mi cong
dài của nàng, còn đọng lại hai viên lệ ngọc. Ngài từ từ đứng dậy, cung kính di
quanh giường ba vòng, hai tay chấp ngang ngực, miệng lẩm bẩm: “Từ đây không bao
giờ ta còn nằm trên giường này nữa”. Ba lần Ngài bước ra, ba lần Ngài trở lại.
Nhưng lần sau cùng với vẻ cương quyết, Ngài phủ vạt áo lên đầu, vén rèm bước
ra.

Thái tử rón rén đi qua
phòng các cung nữ, ảo não nhìn những bông hoa mỹ lệ ấy mà giấc ngủ đã làm tàn
tạ đi nhiều.

– Hỡi đêm tối ? Hãy đè trĩu
mí mắt của những mỹ nữ ấy lại, hãy bít kín những làn môi kia, đừng để một giọt
nước mắt bi cảm rơi xuống, một tiếng kêu gọi trung thành níu chân ta lại. Các
người ơi ? Ta sắp xa các người đây. Ta không thể ở lại trong cung điện này để
chứng kiến những vẻ đẹp của các người mỗi ngày mỗi tàn phai mà ta không thể cứu
vãn được. Chính những vẻ đẹp mong manh đã xúi giục ta một phần trong bước đi
này. Ta không muốn các người sống cái đời như cỏ hoa, mới tươi tốt trong thời
xuân đó, đã bị giày vò dưới nắng hạ, mưa đông, rồi không mấy chốc đã tàn tạ để
đâm chồi thành một cây khác!

Ta sẽ đi tìm cho các người
một đời sống vĩnh viễn, một vẻ đẹp không phai tàn. Thôi ta chào các người, ta
đi đây.


Ngài bước ra ngoài trời. Sao
bừng sáng hơn trước, nhấp nháy mau như để báo cho nhau một điềm lành. Bao nhiêu
cành nhảy múa, gió reo hò trong cây và đến nâng tà áo Thái tử dậy. Hoa rộng nở,
trầm lặng để hương bay...

Trước sự tiếp đón của trời
đất, Ngài mỉm cười đáp lại hai ngấn lệ tuôn dài: lệ chia biệt gia đình hoà với
lệ đoàn viên cùng vũ trụ.

Ngài đến chuồng ngựa, đánh
thức tên giữ ngựa:

– Xa-nặc, hãy đem con ngựa
Kiền-trắc ra cho ta!


Tên giữ ngựa ngạc nhiên,
dụi mắt hỏi:

– Ngài muốn đi đâu trong
lúc tăm tối này?

Ngài vỗ vào vai
Xa-nặc:

– Người hãy nói nhỏ! Chính
vì mọi vật đang lúc còn tăm tối ta mới ra đi. Ta đi để thoát cái ngục vàng này
mà ta đang bị giam hãm. Ta đi tìm chân lý để cứu độ chúng sanh đây.

– Ngài bỏ ngôi báu này, bỏ
nước nhà này mà Ngài sẽ làm chúa tể, để nắm cái bát của kẻ ăn xin?

– Phải! Ta muốn thế. Ta
muốn đừng bịn rịn với tổ quốe nhỏ hẹp này để được yêu vũ trụ rộng lớn; ta muốn
bỏ những kho báu bèo mây để đi tìm cho nhân loại những của quý vĩnh viễn. Ðem
con Kiền-trấe ra đây.


Xa-nặc quỳ xuống, chắp tay
van xin:

– Xin Ngài hãy nghĩ đến sự
đau khổ của hoàng thượng, nghĩ đến nỗi sầu thương của công chúa. Khi Ngài đi
rồi, lấy ai bảo hộ những người thân của Ngài nữa?

– Người ạ. Ta không thể ở
bên cạnh những người thân để hưởng thụ những lạc thú ích kỷ. Vì yêu phụ hoàng
ta, yêu vợ con ta hơn những lạc thú của chính ta, nên ta ra đi để tìm một tình
yêu vĩnh viễn cho cả mọi người. Thôi, người hãy đem con Kiền-trắc ra đây!

Xa-nặc buồn bã đi vào
chuồng, đem con Kiền-trắc ra, lấy yên cương buộc vào, phủ lên mình ngựa một tấm
nhung vàng. Con ngựa thấy Thái tử thì mừng rỡ, hí lên. Ngài vỗ nhẹ vào gáy
nó:

Kiền-trắc ơi! Ta nhờ con
chở ta đi trong một cuộc hành trình xa, xa lắm. Ðêm nay ta đi để tìm chánh đạo.
Ta chưa biết rõ nó ở đâu nhưng ta sẽ không dừng bước, nếu ta chưa tìm ra được
nó. Con hãy hăng háí can đảm lên! Không một trở lực nào ngăn cản nổi, dù đó là
một ngàn lưỡi gươm sáng cản đường, hay đó là thành cao hố hiểm. Con phải phi
như một luồng bão để giúp chủ con! Sau này nếu ta thảnh đạo, con sẽ dự một phần
công đức.

Ngài nhẹ nhàng nhảy lên
mình ngựa. Xa-nặc nhảy theo ngồi sau lưng Ngài. Con ngựa trườn tới, rồi phi,
phi... Những tia lửa sáng loè tung toé dưới bốn vó ngựa đập vào đá sỏi của con
đường mờ...


Sao mai đã lên quá nửa sào. Gió
mai đã bắt đắu thổi lại. Mặt nước sông Anoma (A-nô-ma) rào rào dậy sóng. Thái
tử gò mạnh dây cương nhảy xuống ngựa: con đường mòn tới đây là dứt nẻo. Ngàỉ
trao cương ngựa cho Xa-nặc, từ biệt:

Ta rất cám ơn người. Tình
ta đối với người rất nặng và ta nhớ mãi cái ơn này. Ta nhờ ngươi dắt con
Kiền-trắc về; và đây, tấm áo hoàng vương mà ta không cần đến nữa; đây, sợi dây
lưng nạm ngọc, và nắm tóc mây mà ta đã cắt với lưỡi kiếm này, ta nhờ ngươi đem
về dâng cho phụ hoàng và tâu với ngài hãy tạm quên ta cho đến ngày ta trở về,
mười lần rực rỡ hơn bây giờ, nhờ ánh sáng của đạo ta tìm được.

Xa-nặc một mực đòi xin
theo. Nhưng Thái tử cương quyết chối từ. Biết không thể chuyển lay được Thái
tử. Xa-nặc nặng nề trèo lên mình ngựa. Nhưng con ngựa dậm mãi hai chân trước,
không chịu đi. Thái tử vỗ nhẹ vào gáy nó, bảo:

– Thôi, con hãy về! Con
không thể dẫm chân lên những con đường mới khác mà chỉ một mình ta là có thể
tìm được. Thôi con hãy về!

Con ngựa chậm chạp bước đi.
Xa-nặc quay lui nhìn Thái tử...

Con đường mòn đến đây là
dứt nẻo!


Thái tử đứng nhìn theo. Trên
đường về cung, từng lớp bụi mù quay lộn trong gió sớm! Hình ảnh Xa-nặc và con
Kiền-trấc xa dần, xa dần, khi ẩn, khi hiện, rồi mất hẳn sau những đám bụi hồng
kia.

Con đường mòn đến đây là
dứt nẻo!


6

Dứt với quãng đời quá khứ, sau
hình ảnh cuối cùng của Xa-nặc và Kiền-trắc, đức Thích-ca xây mặt về phía
trước.

Phía trước toàn một màu
xanh đậm của nước và rừng! Cảnh tượng hùng vĩ ở đây làm rợn người yếu vía: Sông
A-nô-ma (Anoma) trùng trùng dậy sóng. Ðiệp điệp bên kia bờ, từng dãy núi chồng
dựng lên nhau. Hoang vu, hoang vu vây cùng mọi ngả. Chưa có một vết chân người
để lại nơi đây! Từ nay muốn đến những chóp núi nhuộm vàng trong ánh nắng
ban mai kia, đức Thích-ca chỉ có một cách, là tự vạch lấy con đường. Ðá ở đấy
có lẽ cứng lắm, dây hoang chằng chịt chắc nhiều và bao nhiêu gai góc nữa! Nhưng
trước mắt Ngài, toàn một màu xanh đậm. Sắc màu ấy gây nguồn hy vọng, và tin ở
sức mạnh của mình, Ngài mạnh bạo bước đi...

Ngài đi đến dãy núi
Ra-na-ghi-ri và xin nhập vào đoàn tu khổ hạnh. Ðây là những người xem thân thể
là kẻ thù của linh hồn, xác thịt là con thú phải xiềng xích, phải hành hạ cho
đến bao giờ tê dại không còn cảm giác nữa. Có người đưa một cánh tay lên trời,
đêm và ngày luôn như thế cho đến lúc nào những khớp xương tay không còn cử động
được nữa, gầy và khô dần như một nhánh củi mục; có người nắm mãi bàn tay lại
cho đến lúc nào móng tay mọc dài, xuyên qua lòng bàn tay đã thối nát; có người
đánh mình với một cái roi da, hay lấy dùi sắt hơ lửa đâm vào ngực. Ở đây, một
người nằm lẫn lộn giữa đống thây ma đã thối nát để tập cho mũi quen với những
mùi dơ bẩn. Ðàng kia, một người ngồi nhai mãi những ngọn lá đắng để làm cho
lưỡi không biết vị nữa. Một nơi khác vài người nằm trần dưới ngọn nắng nẻ đất,
đếm mỗi ngày một ngàn hạt kê rồi bỏ dần vào mồm mỗi lúc mỗi hạt cho đến bao giờ
chết khô vì nắng và đói.

Ðức Thích-ca sống với họ ở
đây, nhưng thấy những cách tu luyện ấy không có hiệu quả gì. Ngài hỏi:

– Ôi ! Ðời đã đau đớn lắm
rồi, sao các người còn cố làm thêm đau đớn nữa?

Một người trả lời:
– Trong kinh có dạy, nếu
một kẻ tu, hành hạ thân xác cho đến nỗi không còn biết đau đớn, khổ nhọc là gì
nữa, thì tâm hồn người ấy thoát khỏi nhục thể mà lên cõi trời, như một làn khói
bay cao lên mấy tầng mây xanh, khi củi đã cháy trong lò.

Ðức Thích-ca nhìn lên trời,
chỉ một đám mây đang bay:

– Làn mây nhẹ trôi trên
trời kia, vẫn biết là ở tự những làn sóng rào rạt trong biển cả, nhưng nó phải
nhỏ dần từng giọt xuống lại trần gian, chảy qua những kẻ đá, đường lầy, hiệp
nhau lại làm thành suối, thành sông, rồi lại lao mình ra biển cả. Tương lai và
hạnh phúc của các người, sau khi đã trải qua bao nhiêu khổ hạnh, biết có thoát
khỏi cái luật xoay vần ấy chăng? Cái gì có lên thì phải xuống, đã đến thì phải
đi. Sau khi đã mua được cõi trời với bao nhiêu xương máu trong chợ đau thương
mà các người đã tạo lấy, tôi chắc rồi các người sẽ trở về với những đau thương,
khi kỳ hạn ở cõi trời đã hết. Bởi thế tôi khuyên các người hãy bỏ những trò
nguy hiểm ấy đi. Tâm hồn trong sáng và thanh cao phải cần có một thân thể trong
sạch và cường tráng để nương tựa. Sao các người lại đánh đập, phá phách thân
thể cho đến nỗi nó phải kiệt quệ, phải gục ngã giữa đoạn đường dài như một con
ngựa bất kham quỵ dưới sức chở nặng khi chưa đến đích?

Bấy giờ các nhà tu khổ hạnh
bực tức, có lẽ vì thất vọng, kêu lên: Người ơi! Chúng tôi đã chọn con đường
này, chúng tôi quyết đi cho đến đích. Nếu người biết con đường nào hơn, nói cho
chúng tôi hay, nếu không, người hãy đi nơi khác mà tu luyện.


Ðức Thích-ca cáo từ mọi người
rồi ra di, lòng buồn rười rượi. Không phải buồn vì chán nản. Ngài buồn vì thấy
người đời đã quá sợ đau đớn, đến nỗi phải tập cho quen với đau đớn, tham sống
đến nỗi không dám sống, sợ chết đến nỗi tập cho quen với cái chết, cố gấp gấp
đào huyệt cho đời mình để mau thoát cảnh địa ngục mà họ đã tạo ra.

Ngài dừng chân lại trên
sườn đồi, chống hai bàn tay lên đầu chiếc gậy tầm xích, đứng nhìn cảnh vật ở
dưới chân Ngài mà than:

– Hỡi những bông hoa dại
mọc ở ven sườn đồi! Các con được tắm ánh sáng và thở khí thanh, có bao giờ các
con thấy phiền muộn đến nỗi muốn diệt mất những hương thơm, muốn ruồng bỏ những
màu sắc tươi đẹp mà các con đang phô bày ra đấy?

Hỡi những đám thuỳ dương
kia! Các ngươi nhờ cái thuật chi mà được bằng lòng sống giữa thiên nhiên hoà
hiệp, được sung sướng vươn mình lên cao để vít gió Hy-mã-lạp-sơn và ngân nga
trong lá rậm?

Và các con nữa, hỡi đàn
chim ơi! Cái thú nước mây dong ruổi mà thiên nhiên đã phú thác trên đôi
cánh các con; cái hạnh phúc được tung từng tràng nhạc trong nắng mai và gió
sớm: những của quý giá ấy, có bao giờ vì lòng ham muốn một cái gì khác quý giá
hơn mà các con đành ruồng bỏ? Có bao giờ các con thấy chán nản đến muốn
không hót nữa, và cố hành hạ thân các con để mong sống cuộc đời tốt đẹp hơn
thế? Nhưng người, các con ơi, người, anh cả của muôn loài, đã đem trí thông minh
để gây thêm khổ và đã sớm đào huyệt để chôn sống đời mình!


Đang khi do dự chưa biết đi về
hướng nào, Ngài bỗng thấy dưới chân đồi, một đám bụi mù dấy lên. Trong ấy đang
lúc nhúc một đàn cừu. Những kẻ chăn cừu chạy từ chỗ này sang chỗ khác để thúc
giục chúng đi. Họ nắm đá ném vào những con đi chậm ở đằng sau. Một con cừu non
đi bên cạnh mẹ bị trúng phải một hòn đá, què một chân. Nó đi chậm lắm. Nhưng
cừu mẹ không thể đi theo, vì nó còn một con nhỏ khác đang chạy lạc ở phía
trước. Theo con này thì bỏ con kia, cừu mẹ đành đứng nhìn lui và nhìn tới...
Ðức Thích-ca chạy xuống đồi, bồng cừu con bị thương lên, vỗ về:

– Dù con về đến đâu, ta
cũng sẽ bồng con theo mẹ con cho đến đấy. Trong lúc ta chưa tìm ra được phương
thuốc để cứu toàn cả chúng sanh, thì ít nữa ta cũng cứu được một mình con ra
khỏi đau khổ ừ như thế còn hơn là ngồi trên núi như những kẻ tu hành kia để
hành hạ thân mình và để cầu được giải thoát với những đấng thiên thần bất
lực.

Ngài bước mau đến phía
trước, hỏi những kẻ chăn cừu :

– Các ngươi dắt đàn cừu này
về đâu đấy?

Một người trong bọn buồn bã
trả lời:

– Vua Tần-bà-sa-la ở thành
Vương Xá, bắt chúng tôi phải nạp một trăm con dê và một trăm con cừu để tối nay
ngài làm lễ hy sinh cúng thần.

Ðức Thích-ca nói giọng
cương quyết:

– Vậy ta sẽ theo các người
đến đấy.

Và vẫn ôm vào lòng con cừu
con, Ngài đi trong đám bụi hồng của đoàn thú dấy lên. Ðến một bờ sông kia, một
người đàn bà mắt chưa ráo lệ, chắp hai tay, quỳ xuống bên chân Ngài:

– Thưa Ngài, hôm qua con
đến bên Ngài cầu xin Ngài một phương thuốc để cứu đứa con trai nhỏ của con chết
vì rắn cắn. Ngài vén khăn lúp mặt nó, dịu dàng nhìn, rồi đậy lại mà bảo: “Người
hãy đi đến nơi nào chưa có một người cha, người mẹ, người con hay đứa nô lệ
chết mà xin một nắm tro. Nếu người xin được thứ tro ấy thì mới có thể cứu con
người được”.

Ðức Thích-ca hiền từ nhìn
người đàn bà đau khổ và hỏi:

– Nhưng người có tìm ra
được thứ tro ấy không?


Ôi, con ôm đứa con đã lạnh
vào lòng, đi gõ cửa từng nhà một, từ thành thị cho đến thôn quê, để xin thứ tro
ấy. Tro thì không thiếu gì, nhưng không có nhà nào là không có người hoặc mới
chết, hoặc chết đã lâu ? Con mệt nhọc và chán nản đặt con bên cạnh bãi dâu, đi
tìm Ngài để nhờ Ngài chỉ cho con một nhà nào con có thể tìm được thứ tro như
Ngài đã dạy. Ðức Thích-ca đặt một tay trên vai người đàn bà như để trút cả một
mềm thân mến xuống đấy và nói với giọng chua xót:

Người ạ, không có được thứ
tro ấy, vì chết là một luật chung của muôn loài. Hôm qua ta bảo người tìm thứ
tro ấy là chỉ cốt để cho người nhận thấy rằng, đã làm người thì phải chịu sự tử
biệt. Không thể vượt ra ngoài luật cay nghiệt ấy được trong lúc còn ở trong
kiếp người. Người phải hiểu rõ như thế để kiên nhẫn, chịu đựng tai nạn kia. Hôm
qua người tưởng chỉ có một mình người đau đớn, bây giờ người đã rõ rằng toàn cả
nhân loại, chúng sinh đều chịu như thế cả. Cái đau đớn của người trong cái đau
đớn của toàn thể, một giọt nước mắt trong biển nước mắt, âu cũng là một chuyện
thường, người đừng nên than khóc thái quá. Vả, có kêu gào than khóc cho lắm đi
nữa cũng vô ích, vì không thể đổi được cái luật thiên nhiên khắc nghiệt kia mà
mọi người đều phải chịu. Thôi, người hãy đi chôn con người đi. Nếu ta có thể
cứu được con người thì dầu có cần đến máu xương ta, ta cũng không từ.


***

Ngài cùng bọn chăn cừu đi tiếp
đến thành Vương Xá. Quân gác thành thấy vẻ hiền hậu và phương phi của Ngài đều
tránh ra hai bên cửa để Ngài vào. Xe ngựa đều dừng lại để Ngài đi trước. Trong
các phố xá, người ta đổ xô ra hai bên đường, nhìn Ngài ôm con cừu đi qua. Họ thì
thầm với nhau : “Không biết người thuộc về hạng nào mà phúc hậu và trang nghiêm
lắm thế? Ồ, hai mắt dịu dàng và thông minh quá đỗi! Có lẽ đó là một vị thiên
thần mới xuất hiện đâu đây”.


Ngài đi thẳng đến đền vua. Vua
Tần-bà-sa-la đang đứng trước bàn thờ. Các nhà quyền quý Bà- la-môn choàng áo lễ
trắng đứng hai bên. Họ vừa đọc kinh vừa kính cẩn mang những bình đựng nước hoa,
mỡ và rượu so-ma đổ vào ngọn lửa đang reo cháy trên đống củi thơm. Quanh giàn
hoả, chảy lừ đừ một dòng huyết đặc của đàn cừu bị chọc tiết. Trước bàn thờ, một
con cừu đực bị trói nằm sấp trên chiếc ghế dài, đầu bị kéo ngược ra đàng sau
lưng. Một người Bà-la-môn kê lưỡi dao nhọn và sáng vào cổ con vật mà khấn to
:

– Hỡi các thần linh! Ðây là
những dòng máu tinh khiết của đàn cừu vô tội. Xin các Ngài hãy sung sướng nhúng
tay vào đấy mà rửa tội cho nhà vua. Xin các ngài hãy lấy mỡ của chúng mà đốt
cho tiêu tan những lỗi lầm của cả nước. Từ đây xin các ngài đừng giận hờn mà
gieo hoạ xuống nữa!

Ðức Thích-ca vội đến bên
cạnh nhà vua, tâu, giữa sự ngạc nhiên của mọi người:

– Xin bệ hạ đừng để cho
người ấy giết con vật vô tội kia!

Nói xong, Ngài xoay lại mở
trói cho con cừu. Mọi người đều đứng yên không ai cản trở: Ngài có một vẻ gì
khác phàm đã làm mọi người từ vua đến quan phải kính nể.

Sau khi xin phép vua
Tần-bà-sa-la, Ngài cao giọng giảng cho mọi người nghe:

– Ai cũng ham sống, thế mà
ai cũng thích giết hại; ai cũng có thể giết hại một cách quá dễ dàng, thế mà
không ai có thể tạo ra được sự sống.

Ngài tiếp:
– Dù muôn loài có khác, sự
Sống chỉ là một. Trong Thánh kinh có dạy, sau khi chết, có người sẽ đầu thai
làm thú vật, có nhiều thú vật sẽ làm người. Người và vật vì thế mà vẫn cùng một
dây liên lạc như anh em. Không thể lấy máu của thú vật để rửa tội cho người.
Xin với thiên thần tha tội là một việc vô ích. Nếu các ngài ấy đều thiện, thì
các ngài sẽ không thể tha thứ một việc làm ác như thế. Nếu các ngài ác, thì dầu
có giết bao nhiêu thú vật đi nữa để cúng, các ngài cũng không hết ác được.
Nhưng dầu thiện, dầu ác, các ngài cũng không tha tội cho ai được. Tội của người
nào thì người ấy phải chịu. Đấy là luật nhân quả, không ai có thể vượt qua.
Càng giết hại nhiều lại càng mang lắm hoạ.

Giảng đến đây, một cảnh
tượng hoà thuận và đẹp đẽ hiện ra trước mắt. Ngài cất cao giọng và nói một cách
say sưa:

– Ôi, thế giới này sẽ an
vui biết bao và biết bao sầu thảm sẽ không có nữa, nếu nhân loại biết thương
đến loài vật mà không nỡ tâm chém giết chúng để cúng và để ăn, nếu nhân loại
chỉ tự nuôi sống với cỏ cây, hoa trái!

Ngài nói với một giọng rất
thiết tha và đầy thương cảm. Các thầy Bà-la-môn nghe xong đều cởi bỏ hết lễ
phục mang trong mình với hai bàn tay chùi chưa sạch máu. Mấy trăm con cừu được
thả ra, vui vẻ chạy rong trên các đường phố như vừa thoát khỏi địa ngục mà sự
mê muội của loài người đã tạo ra.

Vua Tần-bà-sa-la kính cẩn
đến bên đức Thích-ca, chắp hai tay vái Ngài và mời Ngài về cung. Ngày hôm sau,
vua sai khắc trong đá và chạm vào gỗ đạo dụ rằng :

“Từ xưa đến nay chúng ta đã
phạm một tội lớn là giết súc vật để cúng thần. Nhưng bắt đầu từ ngày nay, trong
dân gian không ai được làm đổ máu một con vật, vì chúng sanh đều cùng chung một
sự sống. Và nên luôn nhớ rằng những điều lành sẽ dành riêng cho những kẻ hiền
lương”.

Sau khi rõ lai lịch đức
Thích-ca, vua Tần-bà- sa-la liền mời Ngài ở lại:

– Ngài là một đấng vương
giả, sanh ra để ngồi trên thiên hạ, chứ không phải sống để nhờ sự bố thí của
mọi người. Ngài hãy ở đây với trẫm, đem sự hiểu biết của Ngài để giáo hoá cho
dân gian; rồi đến khi nào hết đời trẫm, thì giang sơn này trẫm sẽ giao cho Ngài
cai trị.

Nhưng đức Thích-ca một mực
chối từ:

– Tâu bệ hạ, tôi đã bỏ cha
tôi, vợ tôi, con tôi và giang sơn, tổ quốc để đi tìm chân lý. Bệ hạ đừng cầm
giữ tôi lại làm gì. Tôi không thể ngồi yên trên ngọc ngà châu báu, trong lúc
tai tôi còn nghe những tiếng đau thương của nhân loại, lòng tôi còn cuộn lên
những bào ảnh của cuộc đời. Xin bệ hạ để cho tôi đi. Bao giờ chân lý đã rạng
ngời trước mắt tôi và sáng soi cùng thế giới, tôi lại xin trở lại đây để đền
đáp ơn Ngài đã chiếu cố.

Vua biết không thể cầm giữ
được Ngài, liền đi quanh Ngài ba vòng và cúi đầu dưới chân Ngài từ biệt, sau
khi đã chúc Ngài mau thành Chánh Giác.


Từ đây, trên những con đường
hiểm trơ và gai góc dọc theo Hy-mã-lạp-sơn, Ngài lại bước chân lên, mang theo
bên mình một bình bát và một chiếc gậy. Và dưới những ngọn nắng cháy thịt,
những trận mưa rách da của xứ Ấn Ðộ. Ngài chỉ biết đem một tình thương vô hạn,
và một ý chí mạnh mẽ vô cùng để tự che chở.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Ánh Đạo Vàng 2
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC :: CÁC MẤU CHUYỆN ĐẠO-
Chuyển đến