Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Ánh Đạo Vàng 1

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Mucdong

avatar

Tổng số bài gửi : 14
Join date : 10/09/2009
Age : 28
Đến từ : Huong Son

Bài gửiTiêu đề: Ánh Đạo Vàng 1   Tue 22 Sep 2009, 14:09

Mình đọc thấy hay nên pots cho mọi người tham khảo thêm.Mà chắc là mọi người cũng pít oa`i!!!

ÁNH ĐẠO VÀNG

Võ Ðình Cường

Lời giới thiệu


Trí Phật là trí kim cương. thân Phật là thân kim sắc, cõi Phật là cõi hoàng kim, thì Ðạo Phật tất nhiên là Ðạo Vàng. Ánh Ðạo Vàng là kim quang của đức Từ bi rộng lớn phá màn vô minh, chỉ rõ đường chánh.
Một đời thị hiện của Phật đều vì việc ấy, mà nhất cử nhất động của Phật cũng không ra ngoài mục đích ấy.
Bạn VÕ ÐÌNH CƯỜNG trong quyển ÁNH ÐẠO VÀNG này đã phát tâm thuật lại lịch sử của Phật với ngòi viết lưu lợi, lối văn kiều diễm làm độc giả cảm thấy dường như đang sống trong làn không khí Từ bi. Thật là một công trình rất vĩ đại, rất bổ ích cho thế đạo, nhân tâm.
Tôi xin nhất tâm tùy hỷ và tha thiết giới thiệu cùng toàn thể quí vị độc giả.
Tâm Minh
LÊ ĐÌNH THÁM 1945
LỜI THÚ TỘI
Thay lời Tựa

KÍNH bạch đức Thế Tôn! Như một đứa bé khát sữa được nút vú mẹ, như một kẻ bộ hành sắp bị cháy nắng trong sa mạc được hụp xuống giữa khe nước mát, con đã say sưa tìm lại dấu vết của đời Ngài qua các sách sử. Và từ bao năm tháng, con mân mê cái mộng cao
xa là được ca ngợi đời Ngài trên mặt giấy.

Nhưng đời Ngài lộng lẫy thế kia, huyền diệu thế kia, nguy nga thế kia chỉ làm cho con ngây ngất say mê đứng nhìn, và càng nhìn con lại càng nhận thấy ý định của mình quá táo bạo trước nhiều nỗi khó khăn.
Từ ngày Ngài xuất hiện đến nay, trên hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua bao nhiêu
lớp người trồi sụp, bãi bể nương dâu đã mấy lần thay đổi: những vết tích
đã xoá nhoà trong trí nhớ của người đời, những nét chữ đã lu mờ trong sách sử.
Di tích của Ngài tuy được giừ gìn trong các đền chùa tháp điện, cũng không khỏi
lấm màu sắc thời gian. Tài liệu bị mất mát, sai lạc nhiều. Cho nên làm sống lại
đời Ngài, thời đại xa xưa của Ngài, những tục lệ lễ nghi, cách ăn nói giống hệt
thời ấy, là những việc không bao giờ con dám cả quyết. Lại thêm, mọi sử gia đều
đứng về một phương diện khi viết đời Ngài. Tuy những điểm chính thì không ai có
thể làm sai chạy, đổỉ thay đi được, nhưng những chi tiết thì mỗi người thấy mỗi
cách, theo mỗi quan điểm của họ.



Bạch Thế Tôn, con đến
quá chậm: Ngài nhập diệt lâu rồi, và mỗi người trưng bày mỗi cách hình ảnh của
Ngài theo tầm mắt và sự hiểu biết của họ. Con lựa hình ảnh nào đây cho giống
Ngài nhất? Theo nhà tâm lý chăng? Ôi! Nhiều “vì trạng thái tâm hồn... thế này
thế kia; nhiều “vì hoàn cảnh thế này, thế khác” quá!. Theo nhà khảo cổ chăng? –
Ồ, khô khan! Tên người, tên xứ, tên núi, tên sông! “Cái bia ấy dựng lên từ lúc
nào? Cây bồ-đề kia có lẽ mới trồng lại?”

Nhưng
con cũng không muốn giới thiệu đời Ngài với một ngôn ngữ trừu tượng, với nhiều
ẩn dụ, nhiều huyền thoại kỳ bí có thể làm độc giả có ấn tượng sai lạc về bản
chất của Ngài. “Ðất chuyển động ba lần khi Ngài xuất thế”, “con rắn thần đến
quấn quanh Ngài bảy vòng để bảo vệ Ngài trong trận bão tố lớn dưới gốc cây
bồ-đề trước lúc Ngài thành đạo, v.v...” Như thế là nghĩa làm sao? Bị thôi
miên bởi uy lực của danh từ, hình tướng, người ta khó tìm thấy được cái ý nghĩa
thâm sâu ẩn giấu trong mỗi sự việc. Và do đó, có thể có một số độc giả tưởng
rằng đức Phật là một thần linh từ trời cao rơi xuống, hay cho rằng đây là một
“chuyện hoang đường” không có thật!


sợ hai chữ hoang đường của độc giả, con để vào đây rất ít tượng trưng và kỳ
bí–có rất nhiều trong các sách khác. Và như thế, nghĩa là đã giảm bớt rất nhiều
linh diệu, cao thâm, lộng lẫy của đời Ngài. Con đã để đời Ngài ra ngoài vòng
hào quang huyền diệu đáng lẽ phải bao phủ lấy Ngài. Và để lấp bớt cái khuyết
điểm lớn lao ấy, con thế vào một chút văn chương, một chút nghệ thuật: ở đây
một làn hương, ở kia một điệu nhạc, ở nơi khác một tia nắng nhạt hay một cánh
bướm vàng...



Nhưng văn chương
nghệ thuật dầu sao cũng có giới hạn của nó! Ngài là bậc Siêu phàm, hiện thân
của Cao cả, của Thuần tuý, của Linh diệu. Con, một kẻ phàm tục, nương mình lên
không khỏi đất, mắt loà trong bụi đỏ, làm sao thấy rõ được những cảnh tượng
huyền vi? Lưỡi con ngắn quá, chỉ bập bẹ lại những pháp âm mà xưa Ngài đã phát
ra từ ấn Ðộ và bây giờ còn vang dội mãi trên hoàn cầu; tay con vụng về thế này
thì làm sao tung ra được những luồng ánh sáng? Bạch Thế Tôn, đời Ngài là một
biển cả, mà múc nước con chỉ có hai bàn tay!

Cho
nên mục đích của con khi viết quyển sách này rất ngắn ngủi. Không phải làm sống
dậy cái xứ Ấn Ðộ 2500 năm trước: không phải diễn tả đúng theo từng ly, từng tí
đời của Ngài; không làm việc của một nhà khảo cổ, hay nhà tâm lý học ; không
phải đứng trong phạm vi hẹp hòi của một kẻ mê tín đầy thành kiến. Con chỉ là
một kẻ thấy đời đẹp đẽ, cao thượng của Ngài mà sùng mộ, và muốn đem giới thiệu
với mọi người đời Ngài mà mỗi ý tưởng là một ánh sáng chói ngời, mỗi lời nói là
một bài học quý báu, mỗi cử chỉ là một ý nghĩa cao thâm. Nếu độc giả sau khi đã
đọc xong quyển sách này, hay khi đứng trước tượng Ngài, cảm nhận được đấy là
hình ảnh của lòng Từ bi rộng lớn, hiện thân của ý chí dũng mãnh, của Trí tuệ
sáng suốt, thì con đã đạt được mục đích.

Hôm nay công việc đã xong xuôi, đốt nén hương tín thành, con đến quỳ trước điện Ngài, xin dâng quyển
sách này lên Ngài chứng giám. Ðây là tất cả trí óc của con. Ðể phô bày trong
muôn một tâm hồn thâm diệu của Ngài, con đã đặt tất cả tâm hồn con vào đó. Con
đã nhỏ những giọt nước mắt nóng trên trang giấy khi con tưởng tượng lại những
giọt nước mắt của Ngài đã nhỏ trên vết thương của nhân loại: con đã vui sướng–
dầu chỉ là một nỗi vui sướng thô kệch– theo với nỗi vui sướng tinh khiết của
Ngài, khi Ngài tìm ra được ánh sáng dưới gốc bồ-đề...

Bạch
Thế Tôn, vì bao nhiêu tâm huyết và lòng thành thực của con, xin Ngài hãy lượng
xét mà xoá bỏ một ít những lỗi lầm và vụng dại mà con có thể mắc phải khi viết
quyển sách này.


Kính dâng,
VÕ ĐÌNH CƯỜNG


1 . Nhân loại ơi! Có hay chăng một vị Giác
Ngộ mới ra đời?

Chúng sanh ơi! Một đấng Đại
từ, Đại bi, Đại trí, Đại đức vừa xuất hiện ở dưới trần!

Ôi hân hoan, hân hoan cho
toàn cả mấy tầng trời, vì chúng sanh ơi, một đóa hoa Đàm nở, một ánh sáng lạ
chói ngời!

Này ai ơi! Hãy đi về phía
nam dãy núi Hy-mã-lạp-sơn, vì chính ở đấy đã ra đời một đức Phật.



Tiếng hát trong thanh ấy không biết tự
đâu bay lạc trong gió, lanh lảnh dội từ khoảng rừng này sang khoảng rừng khác.
Ðạo sĩ A-tư-đà (Asita) đang ngồi tham thiền dưới một gốc cây bỗng đứng dậy.
Người choàng chiếc áo lông cừu vào, chống gậy lần xuống núi, đi về phía Nam
dãy Hy-mã-lạp-sơn. Tối hôm ấy người đã đến thành Ca-tỳ-la-vệ.

Ở đây linh đình yến tiệc,
hội hè đang giữa lúc say. Ðèn sáng rực trên các vòm cây. Cờ bay ở đầu các ngõ.
Những cỗ xe bò kết hoa đang kềnh càng chen giữa đám đông, ngựa hí vang lên để
tìm lối bước. Những chiếc ghế kiệu bốn phía rũ rèm xanh, lô nhô trên đám hội. ở
đây, một nhóm người xúm quanh một phường xiếc; đàng kia, họ ngây ngất trước
những điệu múa nhẹ như bay của đoàn vũ nữ. Một nơi khác, những kẻ đấu kiếm đang
thi tài, hay những tay võ sĩ, mình mang lốt gấu đang đọ sức với cọp. Từng trận
cười dòn vang lên từ một đám trò hề đi diễu qua các phố.

Ðạo sĩ A-tư-đà chen chúc từ
đám này sang đám khác, và với vẻ mặt ngơ ngác, đi hỏi từng người :

– Tại sao các người mở
hội?

Và mỗi người trả lời mỗi
cách:

– Vì Hoàng hậu Ma-gia vừa
sanh Thái tử.

– Vì Thái tử Tất-đạt-đa có
ba mươi hai tướng quý.


Nhưng có một người già,
ngồi trên thềm gạch, trả lời rành mạch từng câu:

–“Trước đây chín tháng, một
hôm Hoàng hậu Ma-gia nằm mộng thấy một con bạch tượng sáu ngà đứng trên một
ngôi sao, có sáu sắc chói ngời vượt qua trời cao và luồn vào trong hông phải
Hoàng hậu. Ngài vùng thức dậy. Trời cũng vừa độ bình minh. Một thứ ánh sáng
xanh nhuộm muôn cành rạo rực. Gió không réo rắc, im bặt oán hờn từ núi Hy-mã.
Sông Hằng không trằn trọc sóng Một nỗi hân hoan và thái bình lan tràn mặt
đất.

Hoàng hậu kể lại giấc chiêm
bao cho các già đoán mộng. Mọi người đều công nhận đấy là điềm lành: Hoàng hậu
sẽ sanh được Hoàng nam, tài đức từ xưa đến nay chưa ai sánh kịp.

Ðiều đoán xưa đã bắt đầu
thực hiện. Sớm mai này trong vườn Lâm-tì-ni, chim thi nhau chuốt giọng trên
cành; hoa thi nhau trải màu trên lá; và hương từ bốn phương dồn lại, xông lên
ngào ngạt khắp vườn. Hoàng hậu Ma-gia thấy sự lạ, ngự ra xem. Ngài khoan thai
đi từng bước một, lòng khoan khoái và nhẹ nhàng như có cánh bay. Ði đến gốc cây
Vô Ưu thì Ngài sanh Thái tử.

Mặt trời xuất hiện ở phương
Ðông, hồng hào và tròn trĩnh như mặt Người vừa xuất thế! Hào quang phóng từng
luồng dài, xoè ra như cánh quạt quét sạch những bóng đêm. Bầu trời trong xanh
như đúc bằng ngọc thạch. Từng luồng gió thơm mát ngân vui trong lá mừng.

Tịnh-phạn vương nghe tin,
truyền cho đình thần đến đón Hoàng hậu và Thái tử về. Cờ xí rợp trời, trống kèn
dậy đất. Ðám rước đi đến đâu, từng loạt mưa hoa đổ xuống đấy. Chúng dân lũ lượt
theo sau, hoà nỗi vui mừng của nhà vua cùng với nỗi vui mừng cửa cả nước. Và
trong đám rước, người ta bảo có lẫn lộn những thiên thần, giả người trần tục,
vì đây không phải cái vui riêng của cõi thế mà chính là cái vui chung cho cả
mấy từng trời.

Hôm nay, Tịnh-phạn vương
truyền cho dân gian mở tiệc khao mừng là vì thế.”

Ngày hôm sau, A-tư-đà xin vào triều ra
mắt Thái tử. Tịnh-phạn vương đứng dậy chào vẻ phương phi của đạo sĩ, và Hoàng
hậu đặt Thái tử dưới chân người đức hạnh ấy. A-tư-đà nhìn mặt Thái tử xong, vội
vã sụp xuống lạy tám lần, rồi đứng dậy khóc ròng rã trên chiếc gậy rung rinh.
Tịnh-phạn vương và Hoàng hậu kinh hãi, hỏi dồn:

– Sao đạo sĩ lại khóc? Tai
nạn gì xảy đến cho Hoàng gia đây?

Ðạo sĩ chùi nước mắt
tâu:

– Tâu Hoàng thượng? Tôi
khóc là khóc cho tôi xấu số không sanh nhằm một thời với Thái tử! Ôi, tôi già
nua lắm rồi và sẽ chết nay mai, không được nghe những lời thuyết pháp vàng ngọc
của Thái tử!

Tâu Hoàng thượng! Thái tử
không phải là một người trần. Ngài là một đóa hoa quý nhất của nhân loại, chỉ
nở một lần trong mấy vạn năm. Ngài sẽ là một bậc đại từ, đại bi, đại trí, đại
dũng. Và 32 tướng tốt của Ngài báo trước Ngài sẽ là một vị Ðại vương, thống trị
cả thiên hạ. Nhưng chữ vạn nổi ở trên ngực lại báo rằng Ngài sẽ làm chủ cả tam
thế, dắt đường chỉ nẻo cho tất cả chúng sanh. Ôi thật là đại phước cho Hoàng
gia! Nhưng hỡi ngài Ma-gia đức hạnh! Ngài sẽ lìa cõi trần ô trọc này trong bảy
ngày nữa để lên cõi trời Ðạo Lợi, vì đức hạnh của Ngài đã quá nhiều và nghiệp
báo của Ngài đã hết. Từ đây Ngài sẽ không đau khổ nữa!

Lời đoán ấy không sai. Bảy ngày sau,
hoàng hậu Ma-gia nhẹ nhàng ngủ thẳng. Thái tử được di mẫu là Ma-ha-bà-xà-bà-đề
nuôi. Lên tám tuổi, Thái tử đã tỏ ra không phải một người thường. Tịnh-phạn
vương lo cho con mình sau này sẽ bỏ ngai vàng mà đi theo con đường chông gai và
huy hoàng của một đức Phật. Ngài muốn con ngài sẽ làm một vị Ðại vương, nên
truyền cho tìm thầy giỏi nhất trong nước để dạy Thái tử những điều mà một vị
Ðại vương cần biết.

Tì-xa-bà-mật-đà-la, một
giáo sư thông thái nhất trong những giáo sư được mời đến dạy. Ngày lành đã lựa,
Thái tử kẹp trong tay một tấm gỗ trắc nhận ngọc ở ngoài lề, và một thẻ son để
viết, kính cẩn đến thụ giáo với thầy.

Học đến đâu Thái tử nhớ đến
đấy và nhiều khi Ngài thấy rõ trước những điều thầy sắp dạy.

Chẳng bao lâu, Ngài vượt
hẳn sức hiểu biết của thầy, và một hôm, giáo sư bỗng sụp xuống lạy Thái tử:

– Hỡi Thái tử, từ đây xin
Ngài hãy nhận cho già này làm đệ tử. Sức hiểu biết của lão có hạn, mà trí thông
minh của Ngài vô cùng, lão không sao dạy nổi. Một khi con phượng hoàng đã đủ
lông, đủ cánh thì không một con chim nào khác có thể vượt lên được.

Nhưng hỡi người con của
Ma-gia đức hạnh, lão bái phục Ngài không phải vì trí thông minh eủa Ngài, mà
còn vì lễ độ mà Ngài đối với lão nữa!



Cái lễ độ ấy, Thái tử đem đối đãi với tất
cả mọi người. Cử chỉ của Ngài rất nhã nhặn. Một khí tượng đế vương lộ trên nét
mặt, tuy thế niềm thân ái vẫn chứa đầy trong đôi mắt. Giàu tình cảm, Ngài lại
gan dạ không ai bằng. Trong những buổi đua ngựa trong cung, Ngài tỏ ra rất can
đảm và lão luyện, ngựa của Ngài thường về nhất. Nhưng nhiều lúc, giữa cuộc đua
Ngài bỗng dừng ngựa lại, có khi vì sực nghe có ai réo gọi; có khi vì thấy tội
nghiệp cho con ngựa mệt nhọc đang thở hồng hộc dưới mình Ngài; có khi vì thấy
thương những người bạn sắp thua cuộc.

Và mỗi năm qua, Ngài lớn
thêm lên một tuổi thì tình thương kia lại tuần tự lan dần như từng vòng nước
gợn.

Có một buổi mai mùa xuân, ngang qua vườn
ngự, một đàn ngỗng trắng bay về núi Hy-mã-lạp-sơn. Ðề-bà-đạt-đa, em họ Thái tử,
thấy được trương cung nhắm bắn. Một chiếc tên vụt lên, cả đàn ngỗng trời bay
tán loạn như một đám mây bạc bị gió xé ra từng mảnh nhỏ. Một con rơi xuống, vài
điểm hồng rơi theo giữa khoảng trời xanh biếc. Thái tử thấy được, chạy đến thảm
cỏ gần đấy lượm con vật bị thương lên, áp vào lòng, rút mũi tên ở cánh ra, và
vuốt ve nó như người mẹ hiền săn sóc con đau. Ngài hái lá nhai nhỏ rồi trộn với
mật áp vào cánh chim. Chim dần dần tỉnh lại, âu yếm nép vào lòng Ngài. Trong
lúc ấy, một tên thị vệ đến bên Ngài kính cẩn thưa:

– Thưa Thái tử, con ngỗng
này của Hoàng thân Ðề-bà-đạt-đa đã bắn được. Ngài sai tôi qua đây xin với Ngài
trả lại.

– Không! Con ngỗng này bị
Hoàng thân bắn, nhưng được ta cứu. Hoàng thân là kẻ thù, chính ta mới là ân
nhân của nó. Ta không thể giao nó cho Hoàng thân.

Ðề-bà-đạt-đa không chịu,
qua cãi lại:

– Con vật này khi còn ở
trên trời, thì không thuộc của ai cả, nhưng khi tôi đã bắn được là thuộc về
tôi.

Thái tử áp cổ ngỗng vào sát
má Ngài, trả lời:

– Ta đã bảo không! Không ai
có quyền làm đau đớn một con vật để bắt nó thuộc về mình. Con vật này của ta,
bởi ta yêu thương nó, và nhất là nó đã trìu mến ta. Nhưng nếu Ðề-bà-đạt-da
không nghe thì cứ đi kiện với các lão thần, chúng ta nhờ họ phân xử.

Chuyện ấy được đem ra giữa
triều. Các lão thần hội lại để phân xử. Mỗi người mỗi ý, không biết dựa vào đâu
mà định đoạt. Giữa lúc ấy trong đám người đến xem, có một ông già đứng dậy xin
thưa:

– Nếu sự sống có giá trị
thật, thì người đã cứu sống một con vật đáng gìn giữ nó hơn là người định tâm
giết nó. Một bên tàn sát và phá phách, một bên bảo hộ và xây đắp. Nên giao cho
Thái tử con chim kia!


Mọi người đều cho lời nói
kia rất phải. Vua sai người lấy ngọc ngà ra thưởng cho ông lão. Nhưng người ta
không tìm thấy ông đâu nữa.



Thái tử được chim, hớn hở ôm nó vào
ngực. Ngài nghe trái tim nho nhỏ của nó đánh gấp gấp bên cạnh tim Ngài. Nỗi
sung sướng của Ngài hoà theo nỗi sung sướng của con vật. Ngài nhìn lên trời.
Trời xanh ngăn ngắt, không vướng một mảnh mây tro. Gió nhẹ xuôi chiều về hướng
Bắc.

“Con ơi, hai ngày nay con
bị giam cầm trong đôi tay âu yếm của ta. Tuy được ta nâng niu nhưng làm sao
sánh được cái thú nước mây ở ngoài cao rộng. Hôm nay cánh con đã lành mạnh, và
giữa bầu trời quang tạnh, gió lại thuận thồi về hướng Bắc, ta thả con ra để con
bay về dãy Hy-mã cùng đàn con sum họp. Ta gởi theo con đây một tấm lòng thương
mến, và con hãy về mách lại với đàn con rằng ở đây có một người nguyện sẽ đem
cả đời sống ra bênh vực, cứu giúp những kẻ yếu hèn... Thôi con hãy tung cánh
lên đi!”

Thái tử mở đôi tay. Con
ngỗng vụt bay lên, cổ dài trườn tới trước, hai chân duỗi thẳng ra đằng sau...
Lòng Thái tử phơi phới, nhẹ nhàng vỗ theo với đôi cánh chim đang vạch một đường
trắng ngang trời xanh.




Có một ngày, Tịnh-phạn vương nắm tay con
đi dạo bên cạnh một khu rừng. Ngài đưa tay chỉ:

– Con thấy không? Từ chân
trời thăm thẳm ruộng xanh kia đến khu rừng này và bao nhiêu khu rừng sau đây,
đều thuộc về cha con ta cả. Giang sơn tươi đẹp và thái bình như thế, con cũng
nên xem qua cho biết.


Trời về xuân. Cây rủ màn
xanh. Cỏ giăng đệm lục. Rải rác trên cánh đồng, từng cặp bò kéo cày đi từng
bước một; đằng sau, người nông phu ấn chân trên lưỡi cày: đất bị xẻ từng đường
dài, uốn cong ra hai bên như những lưỡi sóng xẻ ra trước mũi thuyền. Xa xa, vài
người vãi lúa tung cánh tay rộng lên nền trời trong. Vài con chim én mài cánh
trên cỏ mướt. Năm bảy con ác là khấp khểnh đi trên những sóng đất cày. Ðàn bướm
trấng chập chờn bay trên những hoa cỏ tím. Từ phía rừng, tiếng chim lanh lảnh
vang dội trong thành lá rậm. Ở một làng xa, tiếng trống khoan thai điểm hồi cho
một lễ cưới.

Thái bình lan tràn mọi vât.
Thái tử tỏ vẻ vui mừng. Nhưng nhìn sâu vào trong cảnh vật, Ngài nhận thấy những
mũi gai nhọn mọc tua tủa dưới hoa đời. Người nông phu đổi một phần sinh lực để
được sống. Ðôi bò nướng mình trong nắng để kéo lưỡi cày nặng trĩu, chôn một nửa
dưới lớp đất khô. Những côn trùng bị lưỡi cày bới lên, quằn quại trên mặt đất,
làm mồi cho loài chim giành giựt cấu xé nhau. Ngài thấy một con rắn mối đang
đớp kiến, bỗng bị một con ó đến cắp đi. Và trong bụi rậm, một con chồn vàng
đang rình đợi một con gà tha một con trùn đi qua.

Và cứ như thế, con vật này
giết con vật khác, và bị con khác nữa giết hại. Sự Sống sống bằng sự Chết. Cảnh
tượng đẹp đẽ ban đầu chỉ là một cái màn che giấu ở phía sau những giết hại thảm
khốc những cấu xé không ngừng. Thái tử thở ra:

– Chao ôi! Bao nhiêu mồ hôi
và nước mắt đã nhỏ trong chén cơm của người đi cày!. Bao nhiêu sức lực của đôi
bò đã đem ra để đổi lấy một nắm cỏ! Và khốc liệt thay, sự tương tàn giữa vạn
vật!

Nói xong, Ngài đến ngồi xếp
bằng tròn bên một gốc cây và mời vua cha về trước để Ngài ở lại suy nghiệm về ý
nghĩa cuộc đời. Một tình thương không bờ bến chiếm cả tâm hồn Ngài và lan cùng
mọi vật; một sức ước muốn được cứu độ chúng sanh mạnh mẽ đến nỗi tâm trí Ngài
không còn nhận biết những việc xảy ra ở xung quanh: bóng chiều đã ngã, quan hầu
đang đứng đợi Ngài về cung.

Lần đầu tiên, Thái tử có
một quan niệm chung về sự đau thương của toàn thể chúng sanh.


2

Sáng hôm nay, khắp các đường
trong thành Ca-tỳ-la-vệ và các thành lân cận, lính nhà vua mỗi người mang một
cái trống, vừa đánh vừa rao:

– Mời các công nương, mỹ
nữ! Tối nay tại cung, Hoàng thượng có mở cuộc thi sắc đẹp. Mời các cô các bà
hãy đến dự cho đông. Thái tử sẽ chấm cuộc thi. Mỗi người sẽ được một giải
thưởng. Và giải thưởng quý nhất sẽ tặng người đẹp nhất! Mời các công nương, mỹ
nữ ! Tối nay tại cung...

Tiếng rao lanh lảnh lách
qua rèm, tim các cô thiếu nữ đập mạnh trong lồng ngực theo với tiếng trống thúc
giục ngoài đường. Những làn da tuyết ửng hồng, những làn da nâu ửng đỏ, vì máu
chạy mau thêm trong huyết quản. Mắt các cô đang xa xăm bỗng bừng sáng lên vì
một ý nghĩ: “Ồ được Thái tử chấm thi!” Thế là ngày ấy họ lăng xăng trang điểm
để kịp tối vào cung.


Nhà vua mở ra cuộc thi
không phải không duyên cớ. Thái tử Tất-đạt-đa đã 19 tuổi rồi. Trên nét mặt ngây
thơ trong sáng như gương nước mùa xuân thường lộng thoáng một áng mây buồn. Mỗi
lúc gặp con, vua cha liếc thấy không khỏi không liên tưởng đến lời thầy đoán
xưa.

Một hôm, Tịnh-phạn vương
hội triều thần lại rồi phán bảo:

– Các khanh còn nhớ lời đạo
sĩ A-tư-đa nói về Thái tử Tất-đạt-đa chứ? Lòng trẫm mong rằng lời đoán thứ nhất
thực hiện, nghĩa là Thái tử sẽ làm một vị Ðại vương; nhưng để ý mà xem, thì
chừng như Thái tử sẽ bỏ ngôi báu mà ra đi, bỏ lại bao nhiêu công trình quý giá
mà mấy mươi tiền triều đã ra công xây dựng. Trẫm hội các khanh lại đây là cốt
nhờ các khanh tìm cho trẫm một cách gì để giữ Thái tử lại và đưa về con đường
của tiên tổ.

Một lão thần đứng dậy
tâu:

– Tâu Hoàng thượng, chỉ có
lưới tình là vây được Thái tử. Ngàn vạn sợi dây đồng không buộc nổi những ý
tưởng phiêu lưu mà một sợi tóc của mỹ nhân cũng đủ giữ lại dễ như bỡn.

Bá quan đều tán thành lời
tâu của lão thần. Nhưng Tịnh-phạn vương lại phán:

– Ðàn bà thì chẳng thiếu
gì, nhưng sắc đẹp tùy theo mắt mỗi người. Trẫm biết con trẫm thích ai mà
lựa?

– Như thế, tâu Hoàng
thượng, thì nên bày ra cuộc thi sắc đẹp cho toàn thể tiểu thư trong nước, Thái
tử sẽ chấm lấy hoa khôi. Và hoa khôi ấy sẽ là vợ Thái tử.

Thế là theo lời tâu, vua mở
cuộc thi sắc đẹp. Trời chưa tối hẳn, đèn trong hoàng thành đã nối ánh sáng của
mặt trời. Qua vòm cửa hoàng thành cao vòi vọi, nhẹ trôi một dòng muôn sắc. Ðây
là tất cả những công nương, mỹ nữ của một nước hiệp lại để làm vui lòng một
người. Ðây là nơi tụ hội của nhiều lối trang sức khác nhau nhắm một mục đích
chung là làm đẹp lòng người vương giả. Trên những làn tóc óng ả đã chải chuốt
công phu, họ phủ lên một mảnh lưới dịu và mỏng như tơ trời; và trên những áng
da ngời, những khổ lụa mịn như phấn quấn quanh vài vòng, làm nổi bật những tấm
thân cân đối như những tượng thần Hy Lạp, và chạy xuống tận đôi gót chân để mỗi
nhịp đi là gợn lên những làn sóng cong và mềm như những lưỡi nước liếm
bờ...

Họ lần lượt đi ngang trước
mặt Thái tử, hai mắt to và đen nhìn xuống mũi giày; những ngón tay bóng
loáng–vì mới nhuộm dầu–và suôn sắn như những đọt hải đường kéo lên một chéo áo
để khỏi vướng bước chân đi. Nhưng sao những cổ chân tròn trĩnh có đeo vòng kia
lại cứ ngập ngừng như sợ đạp phải một cái gì tôn nghiêm thế? Khi họ đến trước
mặt Thái tử để nhận một giải thưởng trao từ tay Ngài, họ hạ đầu xuống thấp một
chút nữa, để lộ nốt ruồi (Tilka) bóng loáng giữa hai hàng mi cong. Sau khi đã
nhận lãnh một món đồ, họ rảo bước mau ra: một oai linh gì làm cho họ ngợp ngợp,
khi đi ngang trước Thái tử. Hễ nàng nào được hoan hô đẹp hơn những kẻ trước,
nàng ấy bỡ ngỡ đứng lại nhìn quanh, không biết đấy là những tiếng khen tặng
mình hay một kẻ sau vừa đến; dưới sự cao cả, điềm đạm và oai nghi của Thái tử,
các nàng mất hết tự hào, thấy mình nhỏ nhoi và thấp hèn quá. Họ cảm nghe như đi
lạc vào một thế giới không phải để đón tiếp mình. Và cứ như thế, một nàng qua,
tiếp theo một nàng đến, một vẻ đẹp theo sau một vẻ đẹp. Và cứ như thế họ đi
qua... với nhan sắc của họ, may ra còn thoáng chói vọng lại vài ánh kim khí của
đôi hoa tai tròn, trước khi lẩn vào bóng tối.

Không nàng nào có thể làm
gợn dậy một lượn sóng tình trong lòng Người rất tinh khiết đang ước vọng tuyệt
đích ấy. Không một sợi tơ luyến ái có thể vướng víu Ngài với những con bướm vừa
mới lướt qua. Nhưng khi giải thưởng cuối cùng đã trao xong thì nàng Da-du-đà-la
tiến đến. Thái tử giật mình: chưa bao giờ Ngài thấy một người đẹp đến thế. Nàng
đi đến, vây bọc giữa một khung huyền ảo và linh động, thân hình nàng đều đặn và
thanh cao lạ lùng: hình như bao nhiêu vẻ đẹp của đất trời đều hiệp vào đây để
tạo nên một tuyệt tác giai nhân. Làn da hồng mịn thế kia có thể ví được với màu
hồng mịn của da trời một buổi bình minh. Hai mắt xanh ướt và thăm thẳm sâu kia
là hai hồ nước ngọc. Và tóc nàng dưới làn lưới mỏng, gợn lên từng lượn sóng
nhung đen. Nàng khoan thai bước từng bước vương giả như đi vào chỗ quen thân.
Nàng đến trước mặt Thái tử, hai tay chắp tréo trước ngực, đầu cúi xuống trong
một dáng điệu thanh cao để chào Ngài. Rồi đài các nàng ngước đầu lên, đứng
thẳng lại–cổ cao ba ngấn, lộ màu da hồng trên tấm áo trắng tinh. Hoa môi bừng
nở nhụy răng ngà, ở đấy cất lên một giọng trong thanh như tiếng bát sứ
cổ:

– Thái tử còn một vật gì để
dành cho em?

– Hỡi người đẹp nhất trong
những người đẹp, bao nhiêu bảo vật đã hết rồi. Nhưng nàng hãy nhận vật này thế
lại.

Nói xong, Thái tử mở chuỗi
ngọc ở cổ Ngài, nắm vào hai đầu mối dây. Chuỗi ngọc xanh ngời, long lanh muôn
ánh nến, như một chuỗi hạt nước biếc rung rinh, sắp nhỏ dưới tay ngà. Ngài đeo
chuỗi ngọc vào cổ nàng tiên ấy. Nàng sung sướng nhìn Thái tử, cảm ơn. Thái tử
nhìn lại sung sướng được ban ơn.

Ngày hôm sau, trong buổi
chầu, các quan tường thuật lại với vua cuộc thi sắc đẹp và những dáng điệu của
Thái tử khi nàng Da-du-đà-la, con gái của tiểu vương Thiện-giác đến. Nhà vua
cười, phán bảo:

– Thế là ta đã bắt được
mồi. Bây giờ phải kiếm cách gì để nhử cho con phượng hoàng ấy ra khỏi mấy từng
mây xanh.

Thế là ngài truyền cho các
quan đến cung vua Thiện-giác hỏi vợ cho Thái tử. Nhưng các quan buồn bã trỡ về
đem theo một lời gần như thách đố của vua Thiện-giác: “Theo tục lệ nhà tôi, mỗi
khi ai muốn đến hỏi con gái, phải thi võ nghệ. Trong những người đến dự thi, ai
có tài hơn cả sẽ được vợ. Tục ấy không thể miễn cho một ai, dù đấy là Hoàng tử
Tất-đạt-đa.”

Vua Tịnh-phạn nghe xong,
lòng buồn rười rượi Ngài biết con ngài về văn chương, triết học thì không một
ai sánh kịp, nhưng còn võ nghệ thì làm sao thắng nổi những tay vô địch về tài
bắn eung như Ðề-bà-đạt-đa, về tài cưỡi ngựa như A-nậu-đà-la và về tài múa kiếm
như Nan-đà. Nhưng Thái tử vẫn thản nhiên quỳ xuống tâu vua:

– Xin phụ hoàng đừng lo
ngại. Những môn võ nghệ cung tên, con đều có học cả. Phụ vương cứ truyền rao
cho mọi người ai muốn thi tài võ nghệ với con hãy đến vũ trường dự thí.


Bảy ngày sau, trên vũ trường,
có cuộc thi tàí rất sôi nổi. Ở đấy, từ sáng sớm đã tề tựu đủ cả các hạng người
trong thành, từ những bậc vương tước cho đến cùng dân. Công chúa Da-du cũng có
dự. Nàng đi đến trong đám rước cô dâu. Âm nhạc nâng từng bước chân ngựa; những
rèm kiệu hoa hoè phơi phới tung bay; và đàn bò kéo xe, bệ vệ đi từng bước một
vì sợ làm rơi mất những vòng hoa rực rỡ móc trên những cặp sừng vàng.

Các tay dự thi đều là dòng
dõi đế vương, thân thích với Thái tử: Ðề-bà-đạt-đa, A-nậu-dà-la, Nan-đà. Thái
tử Tất-đạt-đa đến trên mình con ngựa Kiền-trắc. Kiền-trắc đưa ra những tiếng hí
dài, vì nó chưa bao giờ quen với một đám đông như thế, và Thái tử nhìn đám đông
ngạc nhiên thấy rằng tuy khác địa vị, khác cách ăn mặc, họ vẫn giống nhau trong
những nét vui mừng.


Thái tử nghĩ đến đấy, bỗng có
tiếng hô bắt đầu cuộc thi bắn. Nan-đà nắm một chiếe cung và sai người đem một
eái trống đồng để cách xa 400 thước. A-nậu-đà-la cũng làm thế. Trống của
Ðề-bà-đạt-đa để xa hơn, nhưng Tất-đạt-đa chấp hết: Ngài bảo đem để trống của
mình rất xa, xa cho đến lúc nào mặt nó chỉ còn thấy nhỏ lại bằng con nghêu. Mỗi
người lần lượt bắn: Ba cái trống trước bị xuyên ba mũi tên, tiếng hoan hô nổi
dậy một góc trời. Ðến lượt Tất-đạt-đa nhắm bắn. Công chúa Da-du hồi hộp, kéo
tấm lưới xuống quá mắt: nàng e sợ mũi tên không trúng đích. Hoàng tử rút mạnh
sợi dây, thanh cung uốn cong như một nhành trúc yếu, hai đầu cung chúm lại và
gãy ngang trong tay Thái tử. Ngài vứt cung xuống và bảo: “Thứ cung này chỉ để
cho con nít chơi. Ở đây ai có chiếc cung nào tốt hơn thế nữa?” Một người trong
đám mách rằng ở đền Simbahanou có một cái cung bằng đồng đen nặng lắm, chưa ai
có thể trương lên nổi. Ngài sai người đến mượn. Một chốc, hai tên lính hì hục
mang cung về. Ngài nắm lên, rồi trao cho mọi người dự thi thử trước. Nhưng họ
chỉ trương ra nhiều nhất là được một gang tay rồi phải thả xuống. Thái tử một
tay đỡ lấy thanh cung, đưa thẳng ra đằng trước và tay kia kéo mạnh dây đồng.
Ngài thả dây: một tiếng ngân dài làm chuyển động cả không gian như một tiếng
chuông đồng. Những kẻ tàn tật không đi xem được cuộc thi, ở nhà nhìn nhau hỏi:
“Tiếng gì lạ thế?” Và có người biết chuyện trả lời: “Ðấy là tiếng dây cung mà
Thái tử Tất-đạt-đa đang thử”. Sau khi thử cung, Thái tử nắm một chiếc tên lắp
vào dây, nhắm đích. Một tiếng ngân, một tia sáng như sao băng xuyên qua hai mặt
trống đồng!


Ðến cuộc thi kiếm, Ðề-bà-đạt-đa
trổ tài trước. Chàng cầm một thanh kiếm, tìm một gốc cây to bằng một ôm người
lớn, phát ngang một lát, thân cây đứt thành hai đoạn. A-nậu-đà-la lựa một cây
to lớn hơn và Nan-đà một cây lớn hơn nữa. Nhưng hai cây rất lớn mọc song nhau.
Tất-đạt-đa nhẹ đưa một lát kiếm, nhanh như phóng một làn chớp, và lạ thay, hai
cây vẫn đứng sững? Nan-đà mừng rỡ reo lên : “A ha! Không đứt!” Công chúa Da-du
chỉ kịp tựa vào vai con thị tỳ cho khỏi gục ngã. Nhưng một cơn gió thoảng qua,
hai cây cùng ngã lăn ào xuống một lượt. Thì ra lát kiếm của Thái tử quá bén và
quá phẳng, nên hai thân cây tuy đã đứt ngang, vẫn còn giữ được thăng bằng trên
đôi gốc phẳng.

Cuộc đua ngựa tiếp theo.
Ngựa phải chạy ba vòng quanh vũ trường. Khi Nan-đà, Đề-bà-đạt-đa, A-nậu-đà-la
về tới mức vòng đầu thì ngựa của Tất- đạt-da còn một khoảng nữa mới hết vòng...
thứ ba. Con ngựa Kiền-trắc chạy nhanh quá, người ta không nhìn rõ nó chạy hay
bay, chỉ biết mỗi giọt nước miếng của nó từ mép rơi xuống đất là nó chạy được
một trăm sải. Nan-đà vội kêu lên : “Không, với con ngựa Kiền-trắc thì không ai
địch nổi. Phải đem một con ngựa hết sức hung hăng ra đây thử xem ai cưỡi
được”.


Quân giữ ngựa đem ra một con
ngựa đen như mực, hai mắt đỏ ngầu, mũi phồng bọt mép trắng cả hàm. Nó cố trườn
tới như chực bứt ba sợi dây buộc ở cổ mà chạy. Nan-đà rồi Ðề-bà-đạt-đa thay
nhau mỗi người cưỡi thử một lượt. Nhưng chưa ngồi yên được trên mình ngựa, đã
bị nó hất xuống đất, mình mẩy lấm một lớp đất bụi và một lớp thẹn thùng.
A-nậu-đà-la ngồi được trên mình ngựa một hồi. Chàng mở dây xích ở cổ nó, vói
tay bịt lấy hàm ngựa, hai chân thủc mạnh vào hông, con vật bực tức nhảy lồng
lên như một luồng gió bão. Nhưng bỗng nó đứng lại, hạ cổ xuống, bốn chân xiêu
hẳn về đằng sau, và A-nậu-đà-la chúi nhào về phía trước đầu ngựa. Bọn kỵ mã hốt
hoảng chạy ra giữ con quái vật lại, và mọi người đồng thanh kêu : “Hãy đem nó
vào chuồng, đừng để Thái tử Tất-đạt-đa cỡi nữa!Nguy hiểm lắm!” Nhưng Thái
tử truyền giữ nó lại. Ngài ung dung bước ra, nắm vào bờm nó, miệng lẩm bẩm vài
lời dịu ngọt, tay phải vuốt ve từ đầu đến cổ, đến hông ngựa, và mọi người ngạc
nhiên thấy nó đứng yên, hiền từ như đã quen với Thái tử lắm. Ngài nhảy lên mình
ngựa, ngựa khoan thai đi giữa tiếng hoan hô của khán giả. Vua Thiện-giác hấp
tấp chạy đến bên Thái tử, nói với một giọng đứt quãng vì sung sướng:

– Chừng ấy cũng đủ thấy tài
vô địch của Thái tử rồi! Thôi, người hãy nhận lấy viên ngọc quý của nhà ta
đi.


Trong lúc ấy, nàng Da-du-đà-la
đứng dậy nắm lấy một vành hoa sứ, vén mảnh lưới đen viền vàng lên quá trán, rồi
đi đến phía Thái tử. Tất-đạt-đa nhảy xuống ngựa, oai phong như một pho thần
tượng, bộ áo vũ trắng nổi bật cạnh sắc đen nháy của lông ngựa. Nàng Da-du cúi
mình rất thấp trước Thái tử, rồi nâng vòng hoa lên trong đôi tay rung rung vì
cảm động, nàng quỳ xuống bên chân Ngài, mắt ngước lên, cổ vươn cao trong một
niềm khát vọng tôn thờ, những tia hạnh phúc bừng sáng trong đôi mắt xanh
ngời.

Thái tử đỡ nàng dậy, và tay
trong tay, hai người tài sắc nhất của thành Ca-tỳ-la-vệ , bước song song đi
giữa tiếng hoan hô của muôn vạn lòng sung sướng.


Sau khi đã chọn được ngày lành
và làm lễ thành hôn cho Thái tử, Tịnh-phạn vương vẫn không chắc ở sức mạnh của
ái tình. Ðể cầm giữ chí hiên ngang của Thái tử, ngài truyền dựng lên một cung
điện hết sức nguy nga, chưa từng thấy ở dưới trời.

Cái “ngục” bằng vàng ấy
được xây trên một trái núi xanh, dưới chân đoanh tròn sông Rohini nước biếc,
giao nối những nguồn suối trắng của Hy-mã-lạp-sơn với dòng nước đỏ của sông
Hằng. Xa xa về phía Nam, chạy dài một dãi rừng mai trắng, rồi đến những đồi
thông xanh: đồi lạí đồi, làm khuất mất những cảnh tượng náo nhiệt của cuộc đời
bên ngoài, nhưng xa xa, gởi mình theo cánh gió tiếng ồn ào của thành thị vẫn
đồng vọng đưa về. Ở phía Bắc, dàn ra những cảnh tượng hùng vĩ của dãy
Hy-mã-lạp-sơn. Ðấy là những ngọn núi, đầu bạc tuyết, hình thù quái dị, đang
bồng bế nhau, chồm lên lưng nhau, thi nhau trườn lên để nâng cao tấm màn xanh
của bầu trời. Ngang giữa lưng chừng núi, dưới những đầu trùm khăn tuyết, từng
tấm áo xanh rừng có từng đường sọc suối trắng, phủ lên những sườn rắn rỏi và
những lưng đá mập tròn. Và dưới chân núi, lan dần ra mãi và nối tiếp những khoảng
rừng kia là những đồng cỏ lục.

Giữa cảnh hoang vu tịch
mịch ấy mà thỉnh thoảng lặng chìm những tiếng chim muông. Tịnh-phạn vương đã
truyền dựng lên những dãy nhà ngang dọc, mở ra trước những vườn hoa bách thảo.
Lầu đài chồng chất lên nhau như từng trái núi nhỏ; những chiếc cầu dài bắc qua
nhiều hồ nước rộng, những bức tượng đá chạm nhiều nhân vật lấy trong các chuyện
tình xưa, những đường dài lát sỏi trắng đan nhau và vượt qua những thảm cỏ
mướt. Ðời sống ở đây bình yên quá nên chim chóc ru nhau về hót bốn mùa, và một
bầy linh dương ngày kia đi lạc đến, cũng nhất quyết ở lại không về.

Nhưng bao nhiêu nghệ thuật
tài tình, bao nhiêu của quý giá đều dồn góp lại để dựng ở chính giữa, điện của
Thái tử và nàng Da-du. Muốn vào đây phải đi qua một cái hồ xây bằng cẩm thạch
có những đường gân xanh, nước trong hồ trong biếc như mắt nàng Da-du; từng đàn
cá thia đỏ vàng, xoè đuôi to bằng cái quạt lớn, bắt chước nhau đớp những giải
mây hồng in trong nước biếc. Quanh hồ những cây dừa lùn sai lá hạ tròn nhưng bóng
im trên sỏi trắng. Ở đây cái gì cũng êm dịu, vì mục đích của ngài Tịnh-phạn là
cố làm êm dịu những ý tưởng quá cao xa đang sôi nổi trong lòng người con trai
anh tuấn ấy.

Khi vén rèm bước vào phía
trong điện, người ta không còn nhớ nữa thời gian. Ở đây ngày đêm không phân
biệt. Một thứ ánh sáng màu sữa chảy lai láng trên những bức màn nhung tía, trên
những đệm gấm có điểm từng chấm sao vàng, trên những mặt bàn ngà bóng loáng,
trên những án lư trầm. Và trầm hương bay, đêm ngày hòa trong ánh sáng, tiếng đàn
buông quấn quýt theo làn hương bay. Những khay vàng được dâng đưa trên đôi bàn
tay cẩn trọng, đặt trước mặt Thái tử những món trân tu; và từng đĩa ngọc đơm
những trái cây còn đọng sương mai; những món giải khát hòa với tuyết đem từ núi
Hy-mã, đựng trong chén ngà bóng loáng; những điệu hát tình, đêm ngày ru đưa, ru
đưa hồn say sưa của Thái tử. Và của bọn vũ nữ, những bàn chân đeo lục lạc, thơn
thơn lướt trên điệu nhạc đơn vui: những bàn tay mềm dẻo nối theo nhau, chuyển
từng gợn sóng để dìu giọng tiêu bay... Rồi trước khi giọng tiêu thổi cao vút,
những ngón tay thôi chới với giữa ánh sáng thơm xanh, đầu Thái tử đã gục vào
vai bà Da-du, đôi mắt lừ đừ từ từ khép lại.

Thái tử sống trong cảnh
thiên đàng ấy, quên mất thế giới bên ngoài. Hằng ngày có những quan giám sát
lẫn lộn trong đám người hầu, để chực trừng phạt những ai nói đến tiếng kêu gào,
rên siết của đau thương, cảnh tượng hãi hùng của hoả táng. Những cảnh tượng già
nua không được hiện lên cảnh vật: một đóa hoa sắp úa, người ta vội cắt đi một
chiếc lá rụng vàng, người ta vội lượm lên trước khi mặt trời dậy. Nếu một nét
nhăn hiện trên vừng trán, một đôi chân mệt mỏi không lanh lẹ nhấn theo tiếng
đàn, một giọng ca đang vút cao bỗng đứt quãng, một ngón tay rướm lệ đỏ trên
phứn ngà, một sợi tóc bạc hiện giừa làn tóe mây, người cung nữ xấu số ấy sẽ bị
đưa ra khỏi đấy.

Thái tử bị đoanh vây giữa
bao khoái lạc ấy nhưng đôi khi tỉnh dậy, ngao ngán cho phận mình. Ngài bỗng để
rơi một ly rượu ngọc khỏi tay mềm! Thế là tiếng đàn địch lại véo von thêm, mộc
trầm lại xông dày khói biếc và những tấm thân của bọn vũ nữ lại mềm dẻo hơn
lên. Nhưng Thái tử không vui lại được. Những lúc buồn bã như thế, Ngài truyền
cho bọn vũ nữ thôi múa hát và ngồi quanh Ngài. Rồi một nàng, theo lệ như mọi
chiều vàng khác, kể tiếp cho Ngài nghe một chuyện tình xưa còn bỏ dở:

– Thưa Thái tử, rồi công
chúa nước ấy đợi mãi không thấy chồng về, thắp hương khấn vái đất trời cho nàng
gặp được chồng ngoài chiến địa.

Một buổi mai kia, trời đất
bỗng sầm tối, một con chim đại bàng nghiêng cánh thấp dần bên khoảng dồng
hoang, cất tiếng thanh tao mời công chúa lên lưng để nó đem ra chiến địa.

Rồi chim đại bàng cất cánh
bay lên, trên lưng mang nàng công chúa đẹp. Nàng sung sướng tưởng đến phút gặp
chồng. Nhưng hỡi ôi ! Nơi chiến địa im lìm một làn tuyết phủ.

Trong lúc ấy thì phò mã,
sau khi giặc giã đã dẹp yên, trở về triều, nhưng người yêu đã biến đâu
mất!

Con thần mã phi qua những
đồng lúa vàng, trên những đầu sóng bạc, phóng qua những núi tuyết, và đêm ngày
nó phi luôn như thế, và đêm ngày tiếng nhạc ngựa rền vang một điệu đàn ai oán,
làm choáng váng cả núi đồi.


– Rồi sao nữa con?–Thái tử
hỏi.

– Thưa Thái tử, rồi một
buổi mai kia, công chúa đang mê man trên cánh đại bàng, bỗng tỉnh dậy vì tiếng
vang của nhạc ngựa. Nàng bảo con đại bàng hạ xuống và nghiêng cánh trút nàng
trên lưng ngựa Phò mã.


– Thế thì uổng quá
nhỉ?–Thái tử kết luận.


Người cung nữ ngạc nhiên
hỏi lại:

– Thưa Thái tử, Ngài muốn
nói gì?

– Ta tiếc cho hai người đã
gặp nhau quá sớm. Sao không đi tìm khắp cả mặt đất rồi mới gặp nhau? Như thế
hai người sẽ trãi qua được biết bao nhiêu cảnh vật. Ôi! Nếu ta được cưỡi trên
cánh chim đại bàng, hay trên lưng con thần mã. Ta sẽ đi ngao du cùng cả thiên
hạ, và bao cảnh lạ sẽ chào đón ta ở bốn phương trời.

“Em Da-du yêu quý ơi, em có
nghe chăng, những lúc ta gối đầu trên cánh tay em, tiếng rào rạt của lòng ta
dâng lên như những tiếng sóng ồ ạt lăn mình trên bãi cát, rồi lại tan tác lui
về? Những lúc ấy là những lúc lòng ta khao khát được vượt qua những dãy núi cao
và biển rộng. Có những ngày ròng rã lòng ta quay theo với mặt trời, từ buổi mai
hồng cho đến chiều tía, có những đêm trọn ta thức với trăng sao, để tưởng tượng
ở những phương trời khác, có những tâm hồn được ta mến yêu, có những người ta
chưa quen biết, nhưng ta chắc sẽ vui vẻ tiếp mời.

Thế mà ta bị giam hãm trong
ba lớp thành này! Làm thế nào, em ơi, khiến ta vui được?”


Có một buổi chiều, đang thiêm
thiếp dưới làn gió quạt của người vợ đẹp, Ngài bỗng mở bừng đôi mắt, đứng dậy
kêu lên:

– Ôi vũ trụ ta nghe rồi!
– Ngài nghe gì thế?–Công
chúa Da-du vội hỏi, đôi mắt hãi hùng nhìn Thái tử. Thái tử nhìn lại nở một nụ
cười hiền để làm yên lòng người vợ trẻ. Và để khuây khoả lòng chồng, nàng sai
đặt một cây đàn sáu dây trong khung cửa sổ, mặc cho vuốt gió buông bắt. Sáu dây
đàn ngân lên một điệu đàn kỳ lạ, làm mọi người trong cung điện đều mê ly. Duy,
trong ý gió, chỉ có Thái tử là nghe thấy những niềm khóc than:

– Ôi lang thang! Chúng tôi
là gió lang thang đã muôn ngàn thế kỷ, đang đi tìm một sự an nghỉ không thể có
ở trần gian. Chúng tôi bay từ đâu lại, khởi từ lúc nào, và bao giờ được yên
nghỉ, và sẽ đi về đâu? Nào chúng tôi có biết!

Vì thế có khi chúng tôi đã
kêu gào trên biển cả, gầm thét trên núi đồi; nhưng ôi đau đớn! Sự giận hờn của
chúng tôi nào có ai hay!

Có lúc qua ngàn thông cao,
chúng tôi vừa bay vừa khóc; có những lúc vừa nhọc vừa buồn, chúng tôi đã để
tuôn từng luồng sầu hận.

Ðau đớn, giận hờn, van lơn,
khóc lóc, và nhọc, và buồn: thôi đã đành phận gió. Nhưng đó cũng là số kiếp của
người đời!

Một kiếp người qua, một hơi
gió thoảng! Chúng tôi đã trải qua biết bao sông núi, chứng kiến biết bao sự
tiêu vong, nên chúng tôi chỉ biết kể lể những nỗi đau buồn.

Chúng tôi đã thấy đầy dẫy
những tâm thân quằn quại trong đau thương, những cánh tay vươn chơi vơi lên cao
trước khi chìm trong thất vọng, những cổ họng khát khao đã kêu gào trong tăm
tối!

Chúng tôi đã mang về đây
những mùi thối khét của những thây ma thiêu trên giàn hoả, chúng tôi đã mang về
đây mùi tanh hôi của những vũng máu đọng thành hồ trên bãi chiến!

Và Ngài hãy nghe đây, tiếng
rạt rào của bao làn sóng lệ, những niềm kể lể của những con tim héo tàn!

Ôi trần gian, một tiếng
than dài vô kể, làm sao Ngài có thể say mê hoài giữa những khoái lạc mong
manh?

Dậy đi thôi! Chúng tôi mong
Ngài tỉnh dậy! Trần gian mù quáng đang sờ soạng quanh mình, hỡi người con của
Ma-gia, hãy đưa nhân loại ra khỏi vũng lầy tăm tối ấy!

Đi đi thôi! Chúng tôi mong
Ngài đi tìm một con đường gỉải thoát cho nhân loại noi theo! Dậy đi thôi! Ði đi
thôi! Ôi Thái tử!


Sáu dây đồng rung lên một hơi
dài rồi im bặt, như một giọng đang nói bỗng tắt ngang, vì quá thổn thức. Thái
tử vùng dứng dậy, đôi mắt sáng lên như vừa tìm thấy một cái gì hiện ở chân
trời.

Ngài bước mạnh ra phía cửa
phòng, những mảnh rèm trúc tung toé ra hai bên tường và xào xạc chạm vào
nhau...

Công chúa Da-du sợ hãi, im
lặng theo sau, bước mau từng bước nhỏ.

Nhưng từ ba lớp thành cao,
văng vẳng đưa vào những tiếng kèn kẹt của hai tấm cửa sắt mà bọn gác thành khép
lại và những tiếng lẻng kẻng của những sợi xích chạm vào nhau. Hoàng hôn xuống
đã lâu rồi. Bóng tối kéo đầy. Thái từ ê chề ngồi phịch xuống một tấm ghế đá ở
trong vườn.

Từ trong cung, theo gió bay
ra từng gợn sóng nhạc và những tiếng hát hồn hển của đoàn vũ nữ đang múa may...

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Ánh Đạo Vàng 1
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC :: CÁC MẤU CHUYỆN ĐẠO-
Chuyển đến